Hiển thị các bài đăng có nhãn Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 3, 2014

Công Bùi : Product tốt sẽ giải quyết nhu cầu của business và user cùng lúc

Chưa bao giờ Startup lại nóng như thế tại Việt Nam. Phát triển sản phẩm, launching, gọi vốn và gặt hái thành công là giấc mơ của biết bao nhiêu bạn khởi nghiệp.

VietnamWorks sau 10 năm đã xây dựng được cho mình một vị thế quan trọng, là cầu nối hiệu quả giữa người tìm việc và các nhà tuyển dụng, giúp cho họ  đạt được giấc mơ của chính họ. Rất nhiều bạn hiểu rằng thành công của VietnamWorks là vì website được thiết kế đẹp, tiện dụng nhưng trên thực tế những yếu tố đó chỉ đóng góp một phần vào thành công của VietnamWorks.

Product Manager at VietnamWorks
Website VietnamWorks chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, với rất nhiều hoạt động khác nhau mà một production manager cần vận hành trơn tru và hiệu quả. Những hoạt động này thường được rất ít người biết đến. Bài phỏng vấn với anh Bùi Bá Công - Product Manager của VietnamWorks sẽ hé mở thêm về những bí mật của công việc production manager rất hấp dẫn hiện nay.

Chào anh Công, làm product cái vui nhất là gì anh?
Khi bạn nhận được một nhận xét về sản phẩm mà không thể nói điều gì về nó. Thường thì các nhận xét rất hữu ích và vui, nhưng nhiều góp ý mình đã có kế hoạch cụ thể để thực hiện rồi. Trong tình huống đó thì cùng một lúc có thể cảm thấy: vui, buồn, giận dữ, thoải mái và không thoải mái. Vì vậy, làm product phải kiên định với quyết định và lựa chọn của mình,  phải tin tưởng tuyệt đối mặc ai nói ngả nói nghiêng.

Làm thế nào để trở thành production manager giỏi?
Đầu tiên thì phải nhìn xa trông rộng, phải cover được hết mọi thứ. Tiếp theo, phải biết cái nào nặng cái nào nhẹ, tức là priority và phải có khả năng thuyết phục, truyền cảm hứng cho người khác làm cái mà bạn muốn và tin tưởng. Có thể xem Steve Jobs là hình mẫu hoàn hảo. Một trong những thách thức lớn nhất là làm cho người khác hiểu tại sao, vì cách suy nghĩ của product và kỹ thuật thường khác nhau.

Ở vn không có trường dạy để làm Product Manager, làm thế nào để trở thành prodution?
Theo anh thì cái này không có trường nào dạy được, chỉ có làm và tự tìm ra câu trả lời thôi.

Hiện nay mọi người bàn tán rất nhiều về sản phẩm giải quyết những vấn đề thực tế
Bàn nhiều nhất có lẽ là công nghệ nhưng làm sao để có một sản phẩm tốt thì khó hơn nhiều, không chỉ là công nghệ.

Theo anh, thế nào là product tốt?
Nhìn chung, sản phẩm tốt là sản phẩm giải quyết được điều mà business cần và cái user cần cùng một lúc.

Để làm product tốt, điểm mấu chốt và khó khăn nhất là gì anh?
Điểm mấu chốt thì quay lại vấn đề sản phẩm tốt phía trên, một product manager giỏi phải hiểu được hết cả 2 nhu cầu đó [business và user cần]. Điểm khó khăn cần giải quyết kế tiếp là làm sao để team [product] cũng hiểu được hết cả hai nhu cầu đó

Một cái khó khăn nữa là phải có khả năng loại bỏ những cái không cần thiết
Đúng vậy, không phải sản phẩm tốt là có nhiều chức năng. Product manager tốt cũng không nhất thiết phải là người nghĩ được nhiều chức năng. Việc loại bỏ còn khó khăn nhiều hơn việc tạo ra cái mới.

Trong ux: less is more hay less is less ?
Less is more.  Ít tính năng nhưng tạo được nhiều giá trị hơn cho cả user và business mới tốt nhất. Nói chung anh đi theo trường phái đơn giản. Một ví dụ là anh không thích Android vì có quá nhiều option để chọn lựa.  Người dùng có vẻ được hưởng lợi từ việc có nhiều lựa chọn nhưng thực tế họ đang bị rối và và không thật sự happy với lựa chọn nào.

Có phải ý anh là đặt người dùng vào tình huống "don't make me think" là cách tiếp cận tốt?
Đúng vậy. Chỉ một lựa chọn tốt nhất luôn là cách tối ưu. Ví dụ như Apple theo định hướng cải tiến sản phẩm ngày càng tốt hơn, tạo ra sản phẩm tốt nhất chứ không theo hướng tạo ra nhiều lựa chọn để người dùng tự chọn lựa.

Được biết là anh rất yêu thích các sản phẩm của Apple, vì sao thế?
Anh thích anh sử dụng iPhone và Macbook, không có ý định dùng Android và máy tính Windows. Anh thích concept quản lý khép kín tất cả sản phẩm của Apple, ví dụ  như iMessage có thể hoạt động với iPhone hoặc có thể tiếp tục cuộc trao đổi bằng Macbook. iPhoto cũng tương tự, chụp hình bằng iPhone sẽ tự động tải lên iCloud, vào Macbook sẽ thấy hình vừa chụp, không cần thêm hành động gì khác.

Dĩ nhiên iMessage và iPhoto không phải là khái niệm mới nhưng Apple đã phát triển lên một cấp độ mới khi đưa vào hệ sinh thái của họ, làm cho mọi thứ dễ dàng và nhanh chóng hơn.

Cảm ơn anh đã dành thời gian trao đổi và mang lại những thông tin thú vị!

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014

Digital Marketing Mix : Product & Price của 4Ps

Có thể là một sự trùng hợp thú vị, cuối năm trước tôi có dịp làm diễn giả của buổi offline “SEO 2013: Định hưởng để thành công"  với chủ đề  “Future of Digital” - cầu nối giữa Digital Marketing với SEO, năm nay tôi lại tiếp tục làm cầu nối giữa Digital Marketing với cộng đồng IT Leader Club.


Tôi trích nội dung đã trình bày về 2 yếu tố căn bản nhất trong Digital Marketing Mix là Product & Price để giúp các bạn hiểu thêm về digital marketing cũng như việc vận dụng thực tế 4Ps trong thế giới digital.

DIGITAL WORLD



Một thống kê từ BI cho chúng ta thấy có gần 3 tỉ người online, chiếm chưa đầy một nửa so với dân số trên thế giới - vốn có hơn 7 tỉ người. So với tỉ lệ này, Việt Nam có khoảng 30 triệu người online, chiếm 35% dân số là một con số lạc quan.

Tỉ lệ này thấp hơn so với Trung Quốc - chiếm 42% dân số và cao hơn nhiều so với con số 1,1% của Myanma và 4,9% của Cambodia.

Đến cuối tháng 10/2013, giá trị các công ty là đại gia mà hầu hết chúng ta đều biết như Time Wanrner, Disney, 21st Century Fox.. thấp hơn giá trị của Google và Apple cộng lại.

Google, với hơn 95% doanh thu đến từ quảng cáo trực tuyến định vị mình là công ty “trên đám mây” cho chúng ta thấy tầm quan trọng của quảng cáo trực tuyến, của thế giới digital marketing đang hiện hữu xung quanh chúng ta.

DIGITAL MARKETING LÀ GÌ?

Vậy thế giới digital marketing đó là gì? Chúng ta hãy bắt đầu bằng điều cơ bản nhất, câu chuyện trước khi có internet, trước khi có khái niệm digital marketing: theo bạn marketing là gì?

Nếu bạn Google từ khóa này, bạn sẽ tìm thấy rất rất nhiều câu trả lời khác nhau. Tuy nhiên, về cốt lõi, marketing = market + ing. Làm thế nào để đưa sản phẩm ra thị trường. Chấm hết.

Nếu bạn muốn làm một website thương mại điện tử hay có ý định làm một ứng dụng trên di động, bạn sẽ bắt đầu như thế nào? Với nhiều chuyên gia về công nghệ hay lập trình viên chuyên nghiệp, cài đặt một website Magento không phải là vấn đề lớn với các bạn. Nhưng sau khi cài đặt xong thì làm thế nào để đưa sản phẩm ra thị trường, làm sao để thành công.

Nếu chỉ có riêng về kỹ thuật, có lẽ đội ngũ của VNG đủ giỏi để duy trì được Zing Deal. VNG không duy trì Zing Deal không phải vì kỹ thuật họ không thể đáp ứng. Project Lana tái tập trung vào Bé Yêu không phải vì đội ngũ kỹ thuật không thể đáp ứng nhiều dự án hơn.

Điều gì đã làm các sản phẩm này thành công và sản phẩm kia thất bại? Tech có vẻ như không phải là nguyên nhân chủ yếu của các sự kiện kể trên. Bài học về cốt lõi của Marketing Mix trong thời đại digital có lẽ sẽ không bao giờ cũ!

P1:  PRODUCT


Từ bao giờ Zing Me trở thành cổng game ? Xuất phát điểm là tham vọng muốn xây dựng một mạng xã hội cho Việt Nam, nhưng sau mấy năm chiến đấu với Facebook, Zing Me đã biến thành mạng xã hội dành cho cộng đồng game thủ. Game Over cho tham vọng mạng xã hội nhưng lại là một khởi đầu tốt cho một định vị mới.

Hãy xem lại tham vọng của Zing Me bằng bài viết cách đây 4 năm, với phát biểu của Vương Quang Khải, phó tổng VNG : “Các mạng xã hội thế hệ thứ ba (mà Zing Me và Facebook là hai đại diện) đều không có sự khác biệt quá lớn. Sản phẩm mới ra đời không có nghĩa là phải phủ nhận cái cũ, mà quan trọng là cải tiến cái cũ, đưa ra được những giá trị mới phù hợp hơn. Facebook khi mới ra đời chỉ là một bản sao của mạng xã hội Friendster nhưng do có một số tính năng mới thuận tiện hơn nên đã được người dùng đón nhận nhiệt tình”

Niềm tin vào một sản phẩm tốt hơn sẽ dành chiến thắng đang mang lại lửa cho đội ngũ của Zing Me, vào thời điểm mà keyword “mạng xã hội” nóng hơn bao giờ hết. Tốt hơn sẽ có thị phần nhiều hơn? E rằng không.

Và đây là mục tiêu mới của VNG

Nguồn: Zing
Bạn có chắc một chiếc đồng hồ Rolex, trị giá khoảng 2 tỉ sẽ chạy chính xác hơn đồng hồ điện tử Casio giá 300 USD? Bạn có biết trong cuộc thử mù giữa Pepsi và Coke, sản phẩm nào được người dùng ưa thích hơn không?

Với mạng xã hội, khi Zing Me chỉ là một follower của Facebook, với nhiều cải tiến hơn nhưng không thể cung cấp được các liên kết ra bên ngoài Việt Nam đã bị Facebook chiếm hữu. Facebook sở hữu từ “connection” - giúp chúng ta kết nối và duy trì các mối quan hệ mỏng manh.

Khi lượng người dùng của Facebook đủ lớn, ảnh hưởng bởi “network effects”: giá trị của một mạng xã hội hoặc một sản phẩm dịch vụ phụ thuộc vào việc có bao nhiêu người đang dùng nó. Facebook, Skype, điện thoại di động, các ứng dụng OTT như Viber, Line, Zalo là một số ví dụ. Càng có nhiều người dùng mới thì người đang ở bên trong network sẽ càng nhận được nhiều giá trị, đồng thời network càng lớn thì người mới tham gia cũng nhận được nhiều giá trị hơn. 

Nói một cách dễ hiểu, nếu có quá ít người dùng Viber, cài đặt xong bạn sẽ gọi cho ai? 

Những người dùng mới sẽ tham gia vào mạng xã hội mang lại cho họ nhiều giá trị hơn. Vào thời điểm đó, Facebook đang là số 1 toàn cầu và đã có kịp 2 triệu người Việt Nam kết nối. Trong khi đó Zing Me dựa trên cộng đồng game thủ hơn 8 triệu người, nhưng lại không có kết nối với nhau, không có tương tác chất lượng nên người dùng tham gia vào Facebook và ngoảnh mặt với Zing Me. Không quá khó để nhận thấy Zing Me đang là một sản phẩm đuổi theo. 

Với cùng câu hỏi, chúng ta sẽ đặt ra với Anphabe, một sản phẩm clone của LinkedIn, liệu họ có thành công? 

P2. PRICE

Trong cuộc đua về mạng xã hội, để đuổi kịp và vượt qua Facebook là một câu hỏi lớn. Tuy nhiên bạn không nhất thiết phải là người theo đuôi (follower).  Bạn có thể cung cấp cấp một giá trị hoàn toàn khác, nếu không muốn nói là ngược lại, bạn sẽ ghi dấu ấn của mình trong tâm trí người dùng. Snapchat, công ty từ chối đề nghị mua lại với giá 3 tỉ USD tiền mặt từ Facebook là một ví dụ.


Snapchat đã mang lại giá trị gì khác với Facebook, khiến cho người dùng upload hình ảnh nhiều hơn cả Facebook, mạng xã hội có hơn 1 tỉ người? Mỗi ngày, trung bình có 400 triệu hình ảnh và video được gửi qua Snapchat, bằng Facebook và Intagram cộng lại. 

Facebook được định vị là timeline, phản ánh con người thật của bạn trong cuộc sống, bạn là người thật. Những gì bạn post trên đó sẽ tồn tại mãi mãi. Snapchat cung cấp giá trị ngược lại: những gì bạn upload chỉ là tạm thời - temporary social media - chỉ tồn tại trong 10 giây ngắn ngủi. Những hình ảnh video bị xóa bỏ hoàn toàn, tránh rủi ro người gửi bị ảnh hưởng sau này - những giây phút mà sau đó người ta chỉ muốn quên đi hoặc những hình ảnh sợ bị bố mẹ phát hiện.

Về kỹ thuật, những gì Snapchat làm được, chúng ta có thể làm được, nhưng giá trị mà Snapchat mang lại, trải nghiệm mà họ mang lại không chỉ thuần túy là kỹ thuật mà là mức độ hiểu sâu về thói quen người dùng, là tầm nhìn về khoảng trống thị trường.

Vậy còn Webtretho thì sao? Liệu WTT có thành công? Hãy cùng xem các chủ đề được chia sẻ trên WTT: chuyện "thắc mắc về lần đầu quan hệ", chuyện "nhật ký đêm tân hôn", chuyện "đời sống tình dục của vợ chồng"..


Trong buổi offline, rất nhiều bạn đã cười khi tôi đọc các số chủ đề này. Nhiều bạn có thể chưa biết Webtretho có những chủ đề này.  Liệu chúng ta có dám trao đổi tâm sự thầm kín, chuyện giường chiếu, chuyện chính họ đang ngoại tình, những ray rứt, những tổn thương.. bằng Facebook? Chắc chắn là không.

Webtretho cung cấp giá trị ở một góc mới, khác với Snapchat. Ở đó là bạn có thể không phải người thật, nơi bạn có thể tâm sự với một nick name mà không ai biết bạn. Ở vai trò là Product Manager của mục Tâm sự, tôi phải đọc rất nhiều bài để hiểu được những suy nghĩ sâu kín (customer insight) của người sử dụng. Tôi bắt gặp rất nhiều chủ đề tâm sự bắt đầu với câu : Em là member cũ, nhưng đăng ký nick mới để dễ tâm sự.

Webtretho giống như một ngôi nhà để họ bày tỏ, bộc lộ để được an ủi, tư vấn, để băng bó trái tim đang tan vỡ. Ở Webtretho, họ là vô danh, họ có thể bày tỏ. WTT hoàn toàn trái ngược với Facebook. Đó chính là giá trị và định vị để mang lại giá trị mà Facebook không thể nào làm được. Nếu Facebook cũng tập trung vào giá trị này họ sẽ ra khỏi giá trị cốt lõi của chính họ.

Marketing thường bắt đầu bằng cách tìm kiếm các khoảng trống trong thị trường và đáp ứng các các nhu cầu đó. Khi công nghệ bắt đầu từ nhu cầu của người dùng, bạn sẽ được tưởng thưởng xứng đáng.

Với các sản phẩm như Snapchat, Webtretho, mức giá cho người sử dụng không phải là họ phải trả bao nhiêu tiền, đơn giản vì các dịch vụ này miễn phí. Mức chi phí ẩn mà họ phải trả cho mỗi sản phẩm gần như nhau: thời gian, chi phí internet, chi phí điện..

Yếu tố Price trong Marketing thường đi đôi với Giá Trị (Value) mà người dùng nhận được. Khi mức chi phí phải trả gần bằng không, các sản phẩm sẽ tập trung vào tập giá trị mà người dùng nhận được khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ này. Sản phẩm dịch vụ nào mang lại nhiều giá trị hơn cho người dùng sẽ chiến thắng.

Cũng như một chàng trai mang nhẫn đi cầu hôn một cô gái, nếu chiếc nhẫn của bạn  - sản phẩm của bạn - mang lại giá trị thực sự cho người dùng, giúp cho cuộc sống tốt đẹp hơn, thuận tiện hơn, lời cầu hôn của bạn sẽ được chấp nhận!

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

"Thi ứng xử" với Khủng hoảng truyền thông

Sau bài viết đầu tiên gợi mở về  chủ đề "khủng hoảng truyền thông" được nhiều bạn quan tâm, đặc biệt là về Coca Cola Việt Nam. Các thành viên của FB trên các group Launch, SMV đều có nhận xét chung là với trường hợp Coca Cola rất khó xảy ra khủng hoảng thực sự.

Người Việt Nam có tính hay quên 

Ở Việt Nam thì không có đâu

Coca Cola vs Hàng Trung Quốc

Admin Lý Bầu, phụ trách các fanpage Honda, Chọn Mua, Win8 
Lý Bầu, phụ trách các fanpage Honda, Chọn Mua, Win8 nhận xét :""Người tiêu dùng Việt Nam không khó tính như người tiêu dùng nước ngoài, và khủng hoảng truyền thông ở Việt Nam không quá lớn như ở nước ngoài. Với quan điểm "Đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại" , khủng hoàng của doanh nghiệp lắng rất nhanh, như cách người ta quên scandal vậy. Vấn đề chỉ là cách chi tiêu: xin lỗi, bồi thường, khuyến mại...& cải tà quy chánh. Người ta quên scandal, quên ngọc trinh làm abc, quên vedan xả nước...."

Nhưng ngay cả Coca Cola chưa trở thành khủng hoảng, chúng ta vẫn tự hỏi: Coke "thi ứng xử" đã hay chưa?  Làm sao để có các tiếp cận phù hợp, không chỉ giảm nhẹ thiệt hại mà còn "chuyển bại thành thắng" khi xảy ra khủng hoảng tại doanh nghiệp của bạn? Một số nguyên tắc sau đây có thể giúp bạn tìm được lời giải phù hợp cho chính mình.

Quy tắc 1: Phản ứng nhanh
Mặc dù The Institute for Public Relations (IPR)  khuyên chúng ta nên phản ứng trong 1h đầu tiên nhưng thông thường từ lúc thông tin được lan truyền và đến tai của người có trách nhiệm mất nhiều thời gian hơn thế.

CRT/tanaka phân tích thêm về thời gian của khủng hoảng: "48 giờ đầu tiên là thời gian khủng hoảng, nếu chúng ta không bắt kịp nó, nó sẽ làm cho khủng hoảng lan xa hơn.  Lý do nhiều công ty không quản lý được khủng hoảng một cách đúng đắn vì họ không nhận ra một thực tế đơn giản: khi khủng hoảng xảy ra đã tạo ra một khoảng trống về thông tin. Nếu doanh nghiệp không điền vào chỗ trống đó, một ai khác sẽ làm, với thông tin không đầy đủ và thường là không chính xác. Khi đã có nhận thức tiêu cực, gần như không thể vượt qua nó." Vì thế chúng ta cần hành động thật nhanh.

Đặng Quốc Cường, Account Manager at Eleven Communication
Đặng Quốc Cường, Account Manager của Eleven Communication lưu ý: "Làm brand cần hiểu tâm lý hành vi. Đôi khi ta chưa xác định giải pháp giải quyết tình huống được ngay nhưng ta có thể có một số phương pháp cắt ngay luồng phản ứng của cộng đồng hoặc điều tiết , cô lập các quan điểm có khả năng gây bất lợi, tạm coi là xử lý cấp cứu trước khi tìm ra bệnh và trị dứt. Khá nhiều brand không có quy trình cấp cứu này.

Khi có quy trình này và đội ngũ phản ứng tốt thì có thể khá yên tâm cho bất cứ tình huống nào. Cường để ý thấy nếu có crisis thì thật ra chỉ trong 10 người phản ứng chỉ có 2-3 người thật sự liên quan, số còn lại là phản ứng theo cảm xúc và hiệu ứng đám đông. Nếu anh chặn và cô lập được yếu tố kích hoạt lan truyền thì mọi việc sẽ không bùng phát. 

Tốc độ phản ứng phản hồi lên tiếng chính thức càng sớm càng tốt, tránh tỏ ra bị động bối rối. Nói chung là phải biết cách trấn áp mềm, càng bị động đám đông càng ào lên. Thường thì do người làm community chả có mối quan hệ mật thiết với brand và môi trường của doanh nghiệp, nên chẳng biết chuyện gì đang sảy ra, tại sao họ lại phản ứng. Thế nên phải có một cơ chế "đường dây nóng"

Tại sao brand lại không biết chuyện gì đang xảy ra ngay lập tức?
Người làm community MXH nói thật toàn do agency nhánh làm, nhiều lúc họ chẳng biết chuyện gì đang xảy ra với brand cả. Brand cũng phải ý thức kiểm soát được các kênh MXH có liên quan tới mình, thiết lập tuyến communicate giữa các kênh này với mình chứ không là bị ăn gạch vỡ đầu rồi mà còn chưa biết bị chửi ở đâu"

Gloria Jean’s Coffee Việt Nam & khuyến mãi không dành cho người lùn
Hãy nhớ lại xem  Gloria Jean’s Coffee Việt Nam mất bao lâu để hành động khi bị ném đá về khuyến mãi
Poster: Chương trình khuyến mãi của Gloria Jean’s Coffees 
Chiều 10/12, Gloria Jean’s đã tung ra chương trình khuyến mãi với nội dung khuyến mãi mua 1 tặng 1 dành cho phái nữ có chiều cao trên 1,65m với mục đích cổ vũ một thế hệ trẻ Việt cao trên 1,65m.
“Theo kết quả tổng điều tra dinh dưỡng quốc gia năm 2010 thì chiều cao trung bình của người Việt trưởng thành là 1,61m, cao thêm 4cm sau 35 năm. Mục tiêu phấn đấu của Việt Nam trong 10 năm tới là đạt chiều cao bình quân 1,65m.
Nhằm cổ vũ cho mục tiêu này, Gloria Jean’s Coffees thực hiện chương trình tặng thức uống MIỄN PHÍ cho khách hàng nữ có chiều cao từ 1,65m trở lên khi mua bất kỳ thức uống nào. Chương trình áp dụng từ 12.12.2012 đến 12.01.2013 tại gian hàng Gloria Jean’s Coffees B2-32 TTTM Vincom Center A…”
Nếu như các chương trình khuyến mại khác luôn nhận được sự chào đón nhiệt tình và hồ hởi thì chương trình này vấp phải sự phản ứng dữ dội bởi thông tin khuyến mãi này kỳ thị người lùn và chuyện tầm vóc người Việt cũng chẳng liên quan gì đến cà phê.

Không mất nhiều thời gian, Grolia Jean's đã hành động ngay lập tức bằng thông báo trên Fanpage của mình :" GJC xin thành thật xin lỗi vì đã tạo ra những ý kiến phản đối và buồn lòng khách hàng của mình. Mục đích GJC chỉ muốn tăng lượng khách hàng đến với cửa hàng chứ không phải vì mục đích kỳ thị ai cả. Các bạn cũng đã biết, chương trình khuyến mãi nào cũng cần có thể lệ và điều kiện, tuy nhiên GJC đã đưa ra điều kiện không phù hợp cho chương trình Uống 1 tặng 1. Vì vậy, một lần nữa thành thật xin lỗi các bạn & mong các bạn vẫn luôn ủng hộ GJC!"

Post xin lỗi của GJC về khuyến mãi dành cho chân dài
Phạm Nhật Huy, Social Media Executive tại Golden Digital
Phạm Nhật Huy, Social Media Executive tại Golden Digital nhận xét : "Theo Huy thì campaign này khó mà lường trước được hậu quả là như vậy. Có thể họ muốn tôn vinh chiều cao trung bình của phụ nữ Việt Nam thật, nhưng có lẽ là bị xui vì ở Việt Nam hiện tại ...con gái thấp hơn 1,65m vẫn còn chiếm phần lớn (Đối tượng 8x đời gần cuối) nên tâm lý của người mình là phải bảo vệ phe "yếu". Và Gloria Jean's Việt Nam cũng đã xin lỗi rồi đấy thôi. Nói chung là vẫn ủng hộ GJ."

Huy khá tâm đắc với cách suy nghĩ "làm marketing là để lường hết mọi rủi ro cho thương hiệu". Làm Social Media cũng vậy, lường trước được phản ứng tốt hay xấu của cộng đồng là đang bảo vệ thương hiệu của mình. Khi làm một campaign trên social network, nghĩ đến điều này trong khi làm plan là một điều cần thiết. Còn làm sao thì, làm đi rồi mới biết được mà điều chỉnh. Nhưng tuyệt đối, không được lừa dối người tiêu dùng và cố gắng xóa bỏ một cách vụng về qua loa mà phải có kế hoạch khắc phục càng sớm, càng khách quan càng tốt"


Tencent có bao nhiêu % cổ phần của VNG - Zing
Tencent có thể thâu tóm được Vinagame?

Hành động nhanh cũng là cách mà VNG đối diện với những thông tin bất lợi. Hãy xem quyết định của Lê Hồng Minh trong cơn bão khủng hoảng
Bài viết cáo buộc VNG “bán mình” cho tập đoàn công nghệ lớn là tencent của trung quốc được tung lên đúng thời điểm TGĐ Lê Hồng Minh của VNG dắt đoàn phóng viên ICT tham dự hội chợ china joy ở trung quốc – một hội chợ rất lớn về game và nội dung số. Theo thông tin mà Long VELO có được thì khi nhận được cấp báo từ Vietnam rằng có bài viết quy kết VNG là gián điệp của trung quốc, là phản quốc, là blah blah blah… thì ông Lê Hồng Minh đã rất “nóng ruột” và tỏ ra thiếu bình tĩnh.
Có lẽ một phần vì sợ “nước xa không cứu được lửa gần”, một phần vì thông tin đó được tung ra đúng thời điểm vô cùng nhạy cảm. Cộng thêm vào đó là việc mạng mẽo lúc đó có vấn đề gì đấy khiến ông Lê Hồng Minh không thể truy cập vào Internet để theo dõi thông tin trên báo chí, diễn đàn này kia cũng như khó liên lạc thông suốt với các bộ phận liên quan ở Vietnam. Cuối cùng, TGĐ Lê Hồng Minh đã quyết định “bỏ về” Việt Nam trước để xử lý sự cố này.
Game Chinh Đồ và sự cố bản đồ đường lưỡi bò


Sau khi  “Đường lưỡi bò xuất hiện trên bản đồ biển Đông” có trong trò chơi trực tuyến Chinh Đồ 2.0 gây  ra phản ứng dữ dội của game thủ, VNG mất bao lâu để đóng cửa? SGGP đã có một bài viết ngắn để chúng ta tự "đếm thời gian"
Bản cập nhật mới nhất của trò chơi trực tuyến “Chinh Đồ” được chính thức đưa lên máy chủ vào ngày 15-12.Sang ngày kế tiếp, cùng với sự giúp đỡ của người dùng, đội ngũ kỹ thuật của VNG đã phát hiện trong bản đồ chính mới cập nhật của game xuất hiện một hình bản đồ nhỏ bên góc phải phía dưới, thể hiện hình dạng bản đồ tương tự đường lưỡi bò. 
Trước sự việc này, VNG đã tuyên bố đóng cửa game Chinh Đồ vào ngày 18-12, dù trên trang chủ của game này (http://chinhdo.zing.vn) thông báo đóng cửa vào ngày 19-12. Công ty VNG đã chính thức dừng hợp tác với nhà sản xuất, Công ty Giant Interactive (Trung Quốc) trong ngày 19-12 do công ty này đã đưa vào bản đồ mới của trò chơi vi phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam. Hiện VNG đã có những phương án bồi thường người chơi, sẽ công bố trong vài ngày tới.
Sau 2 ngày (16-17), VNG đã đóng cửa game Chinh Đồ (ngày 18). Nhanh gọn và quyết liệt đã mang lại hiệu quả cho việc ngăn chặn khủng hoảng. Trên blog cá nhân, Lê Hồng Minh - CEO của VNG đã chia sẻ
Câu chuyện “nóng hổi” nhất và cũng là buồn nhất với VNG trong 2012 là khủng hoảng Chinh Đồ xảy ra vào những ngày cuối cùng của năm. Mọi chuyện diễn ra quá nhanh và đột ngột, làm cho những người trong cuộc (team Chinh Đồ) cũng bàng hoàng khi phải ngay lập tức ngừng hoạt động trò chơi.  [...]

Cuối cùng, chúng ta phải ngừng hoạt động một trò chơi có cộng đồng lớn và trung thành, chịu tổn thất tài chính, và quan trọng hơn là tổn thất uy tín với khách hàng và công chúng.
Quy tắc 2: Facts!
Kiểm tra một cách cẩn thận các thông tin, dữ liệu liên quan. Hãy làm bài tập cẩn thận trước khi phát ngôn chính thức. Đặng Quốc Cường, Account Manager của Eleven Communication chia sẻ:
"Khủng hoảng không phải do mạng xã hội gây ra. Có mạng xã hội, các brand buộc phải đối mặt với nó thay vì lơ đi hay lảng tránh. Khủng hoảng không xuất phát từ vấn đề giữa brand và mạng xã hội, nó luôn xuất phát từ sản phẩm dịch vụ của brand, chẳng qua do brand không quen đón nhận và giải quyết nó nên giờ bị động và có khi cho rằng do MXH gây ra.
Nếu đã chuẩn bị tốt việc này trên MXH thì không có gì đáng phải lo cả, thậm chí nó còn luôn là cơ hội để brand lật ngược vấn đề. Nếu vấn đề xuất phát từ bản chất sản phẩm và dịch vụ của brand thì đừng đòi hỏi MXH giải quyết được nó mà MXH chỉ có thể là công cụ truyền thông thay mặt đứng ra truyền tải thông điệp về sản phẩm dịch vụ của brand tới người dùng.
Khi chúng ta sẵn sàng và quan sát thì thật ra không bao giờ bị động, cho dù tình huống luôn là khác nhau nhưng nói chung thường sẽ quy về vài trường hợp nhất định. Quy trình này thật ra từ trước tới nay các cty PR đã có, quy trình giải quyết cirsis cũng đã có chỉ là Social Media hóa nó thể nào thôi."
Trở lại với trường hợp Coca Cola Việt Nam, facts ở đây có thể là
Các tập đoàn nước ngoài họ rất quan tâm đến việc tuân thủ các quy định về thuế và pháp luật của nước sở tại như Việt Nam và phải công nhận rằng là hơn rất rất nhiều các doanh nghiệp trong nước. Họ cũng đã chi hàng triệu USD cho các chuyên gia tư vấn thuế của các hàng big 4 như PwC, E&Y, KMPG và Deloitte trong việc tuân thủ này. Nguyên tắc tư vấn của các chuyên gia tư vấn thuế là giúp khách hàng tối thiểu hóa chi phí thuế phải nộp dựa trên khuôn khổ quy định hiện hành. Trong các trường hợp mà pháp luật không quy định chi tiết thì họ thường tư vấn cho doanh nghiệp gửi công văn “xin ý kiến” cơ quan thuế có những hướng dẫn hoặc ngoại lệ nào đó. Do đó, việc cơ quan thuế có thể thanh tra toàn diện hay theo chuyên đề thì theo tôi khả năng cũng rất khó để lật ngược lại vấn đề. Rất nhiều nhà báo cố gắng liên hệ các chuyên gia tư vấn thuế để xin ý kiến chuyên môn, điều này chỉ tốn công vô ích!.
Vì thế, Coca Cola im lặng, đợi cơn bão đi qua thay vì thực hiện các hoạt động PR là một cách ứng xử phù hợp, không thổi bùng ngọn lửa tức giận của đám đông.

Quy tắc 3: Phát ngôn chính thức
Hãy nhất quán bằng việc lựa chọn phát ngôn viên thông báo về sự kiện và các nội dung quan trọng. Nếu làm tốt quy tắc này, có lẽ The Voice đã không bị leo thang khủng hoảng. Bài phân tích dưới đây đã phân tích khá rõ điểm này
"Phương Uyên không cần tắt máy. Thiều Bảo Trang, Bùi Anh Tuấn không cần run sợ đến mức chạy trốn báo chí như họ đã làm. Các bạn cứ nghe máy một cách bình thường và trả lời rằng “tôi/em có nghe, có biết về clip ấy. Tuy nhiên mọi bình luận, anh/chị vui lòng liên hệ với người phát ngôn của tôi/em là …”. 
Và trong 1 ngày mà Ban tổ chức họp kín với Huấn luyện viên cùng các thí sinh, người phát ngôn sẽ trả lời tất cả báo chí rằng “chúng tôi đã nắm rõ thông tin về vấn đề mà báo chí đang quan tâm, và chúng tôi đang tổ chức họp để đưa thông tin một cách chính xác nhất đến quý anh chị vào lúc … ngày … “. Khi ấy, chắc chắn báo chí sẽ phản ánh đúng như thông báo ấy và kiên nhẫn chờ đợi. Không ai tiếc gì một ngày để chỉ đưa tin một chiều như lời ông giám đốc Cát Tiên Sa quy kết.
Tất nhiên, ngay khi phóng viên gọi điện cho Phương Uyên hay một số thí sinh mà những người này nghe máy, họ sẽ tìm cách khai thác thông tin – cho dù mọi người có trả lời đúng y boong một câu như được dặn. Tùy theo mức độ “nguy hiểm” của nhà báo, sự lão luyện và ngây thơ của người bị phỏng vấn là các chiêu được sử dụng sẽ là “chỉ hỏi một câu duy nhất”, “trước giờ anh/chị có bao giờ đăng bài nói xấu em chưa, em không tin anh/chị à?”, “em nói thế nhưng vừa rồi bên Cát Tiên Sa lại nói với chị là…”, “em từ chối như vậy là làm khó anh/chị, vậy anh/chị sẽ tự viết theo tin đồn, theo suy luận nhé, có gì em chịu trách nhiệm được không?”, “vậy em không trả lời tức là đồng ý nhé?”…
Thậm chí, có phóng viên còn lão luyện tới mức “thôi bây giờ bỏ qua cái đó đi, mình nói chuyện đời, chuyện xã hội cho khuây khoả em nhé?”. Và rồi cái tâm sự đời cô lựu cho khuây khỏa ấy sẽ được cài cắm những câu móc họng mà nếu yếu nghề, Phương Uyên và các thí sinh sẽ bị thành trả lời phỏng vấn.
Thế nên, trách nhiệm của đơn vị xử lý khủng hoảng (ở đây là Cát Tiên Sa tự làm) phải dự trù được những điều đó và huấn luyện cho những người “có nguy cơ cao” bị truyền thông săn đón, để trang bị cho họ bản lĩnh và sự khôn khéo không bị mắc bẫy phóng viên. Thậm chí, họ phải thực hiện được những cuộc hội thoại kiểu như sau:

- Alo em à, chị X đây, chị hỏi em chút về vụ clip nhé?- Chị thông cảm, mọi phát ngôn chị liên hệ anh Y dùm em nhé.
- Chị chỉ muốn hỏi là clip có thật hay ghép thôi mà. Em chỉ cần có hoặc không?- Chị thông cảm, mọi phát ngôn chị liên hệ anh Y dùm em nhé.
- Vậy là có đúng không? Nếu không thì em nói không đi, còn em nói câu khác thì coi như em khẳng đinh là có nhé?- Chị thông cảm, mọi phát ngôn chị liên hệ anh Y dùm em nhé.
- Vậy là có nhé. Chị cảm ơn em.- Chị thông cảm, mọi phát ngôn chị liên hệ anh Y dùm em nhé.
Và những mánh lới của giới truyền thông như đã được liệt kê cần phải được đội ngũ PR liệt kê càng nhiều càng tốt và có phương án trả lời xác đáng. Sau đó, các kế sách này phải được hướng dẫn cho người phát ngôn chính thức để trả lời báo chí trong họp báo. Bản thân người phát ngôn này đòi hỏi phải có những kỹ năng rất vững về truyền thông và khủng hoảng, ví dụ như giao tiếp với báo chí thế nào, qua cả lời nói và ánh mắt, cử chỉ, ngôn ngữ hình thể và giọng điệu. Họ phải là người giỏi diễn thuyết, nói chuyện thu hút như một nhà hùng biện. Phải có kỹ năng chuyển hướng báo chí tới vấn đề khác khi gặp những câu hỏi chưa lường trước, phải có kỹ năng bắc cầu để chuyển câu hỏi từ một vấn đề tiêu cực nhiều qua để trả lời một vấn đề tiêu cực ít…

Với đòi hỏi cao của người phát ngôn như vậy, thường thì không nhất thiết người đó phải là “bị cáo”. Tức là, trên bàn chủ tọa vẫn có thể có mặt ông Minh cùng các huấn luyện viên, nhưng bản thân họ lại không cần trả lời gì hết mà nhường hết cho một người phát ngôn chuyên nghiệp. Tất nhiên, các vị đó không nhất thiết phải ngồi làm cảnh, mà có thể diễn một màn cúi gập đầu xin lỗi (giống vụ sập cầu Cần Thơ dạo trước) hay những màn khóc lóc đẫm lệ của Phương Uyên, màn ôm động viên của Thu Minh hay Hồ Ngọc Hà chẳng hạn. 
Các vị ấy chỉ cần “diễn tốt” những hành vi như gợi ý, báo chí sẽ ngay lập tức chộp lấy và đăng tải theo hướng vô cùng có lợi. Cộng thêm với thông tin tích cực và đầy đủ từ người phát ngôn, lo gì người ta viết tiêu cực cho mình, cho dù buổi họp báo đó có mặt cả những tờ báo “không thân thiết”.
Thế nhưng cái sự không chuyên nghiệp của khái niệm PR đã làm cho cuộc họp báo trở nên lộn xộn như họp chợ. Các quý vị trên bàn đại biểu thi nhau nói, người này nói chưa xong người kia đã giằng mic cướp lời (nghiêm túc chứ không phải mình nói quá). Thông tin thì mỗi người một phách, lộn xộn lôi thôi. Và đỉnh điểm của sự không chuyên nghiệp của việc lựa chọn những người phát ngôn không chuyên nghiệp là khi họ không kiềm chế nổi cảm xúc của mình.
Trần Lập thì “ngẫu hứng” liên tưởng đến vụ đánh bom khủng bố 11/9. Chắc vào thời khắc ấy, anh chàng này tự sướng (vì sao mình nghĩ ra vụ này hay quá) nên phong luôn cho báo chí thành những kẻ khủng bố và hùng hồn kết luận “đừng khủng bố chúng tôi, hãy để cho chúng tôi yên”. 
Đàm Vĩnh Hưng thì thôi khỏi nói rồi. Anh này trước giờ vẫn nổi tiếng tự coi mình là số 1, thế mà cho anh ta phát biểu thì đúng là thảm họa. Và thực tế đã chứng minh rồi khi anh ta hỏi thẳng “thế thực sự nhà báo muốn gì?”.
Cuối cùng là ông giám đốc Cát Tiên Sa, thiếu kiềm chế tối mức trợn trụa quát vào mặt phóng viên rằng chính quý vị mới là người làm khán giả mất niềm tin. Chính quý vị đưa tin một chiều blah blah blah… Nếu ai tham gia cuộc họp báo ấy mới cảm nhận được sự tức giận và “thái độ chửi rủa, đổ lỗi” của ông Minh chứ nếu đọc tường thuật câu từ qua báo chí thì chưa hình dung được hết.
Mình “sửng sốt” khi thấy ông Minh làm vậy nhưng không bất ngờ. Vì thực sự, với sức ép từ báo chí, một người ít giao tiếp với truyền thông sẽ rất dễ dàng nổi nóng. Lỗi ở đây không phải của ông Minh. Chỉ là êkip của ông đã đặt cho ông một vai trò không phù hợp."
Theo bạn còn có các quy tắc nào khác để "ứng xử" thật tốt khi doanh nghiệp của bạn gặp khủng hoảng truyền thông? Hãy chia sẻ ý kiến của bạn nhé!

Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2012

Mạng xã hội và Khủng hoảng truyền thông

Khi sóng ngầm trở thành sóng thần

Digg và Dãy số bí mật

Trong quyển sách "Làn sóng ngầm", Charlene Li và Josh Bernoff kể lại câu chuyện về Digg mà có lẽ không phải ai cũng biết dưới đây: 

Vào 2007, trước khi được bán với giá 500 nghìn USD, Digg.com là một trang web giúp bình chọn và bình luận về tin tức. Trang chủ của Digg luôn đăng những mẩu tin hay nhất do chính độc giả bầu chọn. Bạn có thể liên tưởng tới cách vận hành của LinkHay tại Việt Nam.

Ngày 30/4, khi một blogger tên là Rudd-O viết điều này trên blog anh ta:
Hãy lan truyền con số này
09 F9 11 02.. bạn có muốn biết tại sao nó quan trọng đến thế không?
Cả ngành công nghiệp điện ảnh đe dọa Spooky Action at a Distance vì công bố con số này, với cáo buộc vi phạm bản quyền.
Tôi không biết là một con số cũng có bản quyền.
Nhưng con số này là gì? Đây là mã số xử lý đĩa HD-DVD của hầu hết các bộ phim được phát hành trong thời gian gần đây
Điều này có nghĩa là gì? Mã bảo mật HD-DVD đã bị bẻ gãy. Chỉ cần một vài kỹ năng phù hợp, một người bình thường có thể tạo ra hàng loạt bản sao DVD độ nét cao - thứ mà đáng ra không thể sao chép được. Chỉ trong một ngày, 50.000 thành viên của Digg đã bầu chọn cho tin này làm cho đường link dẫn tới blog nằm ngay trên trang chủ của Digg.

AACS LA, một tổ chức do các công ty như Disney, Warner Bros., Sony, Microsoft và Panasonic đứng đằng sau, đã tạo nên mã bảo mật vừa bị phá vỡ quyết định phản ứng lại. Các luật sư của họ đã gửi email cảnh báo cho Digg và yêu cầu chấm dứt việc này.  Trước đây, Web Trẻ Thơ bị kiện vụ hoa hậu nái sề vào năm 2009 là một sự việc tương tự.

Thay vì liều lĩnh đương đầu với việc kiện tụng, Digg đã xóa đường dẫn này.  Các blogger đã tìm lại con số này và đăng lại trên blog của họ. Chỉ trong vòng một ngày, sáng ngày 1/5 có 88 blog thì đến cuối ngày đã tăng lên 3.172. Một thành viên của Digg tên là Grant Robertson ví von :"Anh chẳng thể lấy cái gì từ Internet xuống đâu. Nó giống như khi ai đó tè bậy trong hồ bơi vậy, anh chẳng thể nào vớt nó ra được nữa"

Những mẩu tin và blog được đăng tiếp trên Digg và tăng hạng. Theo nguyên tắc, Digg đã loại bỏ các mẩu tin này nhưng chúng luôn phát tán nhanh hơn tốc độ mà bạn có thể tiêu diệt chúng. Ngày hôm sau thì Digg đầu hàng. Đứng giữa vụ kiện và độc giả, Digg đã cúi mình trước thế lực mạnh hơn: độc giả. Kevin Rose, CEO của Digg lúc đó viết trên blog công ty về việc này
Hôm nay là một ngày hết sức khó khăn đối với chúng tôi. Chúng tôi quyết định xem có nên gỡ bỏ các mẩu tin chứa đựng mã số theo yêu cầu hay không. Chúng tôi phải đưa ra quyết định và với mong muốn tránh Digg khỏi nguy cơ bị đóng cửa, chúng tôi đã quyết định nghe lời và gỡ bỏ các bản tin chứa các mã số này.
Nhưng ngay lúc này đây, sau khi chứng kiến hàng trăm mảu tin và đọc hàng nghìn lời bình, các bạn đã làm mọi thứ hết sức rõ ràng. Các bạn muốn thấy Digg bước xuống đường chiến đấu, chứ không muốn thấy Digg cúi đầu trước một công ty lớn. Chúng tôi lắng nghe các bạn nói, và ngay từ lúc này trở đi, chúng tôi sẽ không xóa bỏ bất kỳ mẩu tin hay lời bình nào có chứa mã số này và sẵn sàng đối mặt với bất kỳ hậu quả nào.
Nếu chúng ta thua thì thật đáng buồn, song ít nhất chúng ta đã cố gắng hết mình.
Hãy xới tung lên đi! 
Bằng cách yêu cầu xóa bỏ mẩu tin, những người đại diện cho ngành công nghiệp điện ảnh đã tạo nên một cơn lốc dư luận và làm cho nó mãi mãi không thể bị xóa bỏ. Nếu bạn đang nắm giữ một nhãn hiệu, bạn có thể đang gặp nguy. Trong đầu khách hàng luôn tồn tại một suy nghĩ nào đó về nhãn hiệu của bạn - một suy nghĩ có thể khác hẳn với hình ảnh mà bạn muốn họ nghĩ về bạn. Giờ đây, họ kể với nhau về suy nghĩ đó, họ định nghĩa lại nhãn hiệu bạn đã tốn hàng triệu đô la hoặc vài trăm triệu đô la để tạo nên.

Trong trường hợp suy nghĩ của khách hàng về một thương hiệu nổi tiếng là một hình ảnh xấu thì khủng hoảng chưa dừng lại ở đó, nó "giúp" thương hiệu chết nhanh hơn bao giờ hết. Vedan có lẽ là một ví dụ đắt giá trong trường hợp này.

Khủng hoảng tại Vedan
Công ty Vedan Việt Nam xây dựng nhà máy vào năm 1991 tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, nằm ở phía Đông Nam thành phố Hồ Chí Minh, tổng diện tích 120 hecta.

Vedan Việt Nam sử dụng phần lớn lượng nông sản sắn, mía do nông dân địa phương trồng cùng với mật rỉ được chiết xuất từ các loại đường có nguồn gốc từ thiên nhiên để sản xuất ra bột ngọt chất lượng cao. Trước thời gian xảy ra khủng hoảng vào  2008, công ty Vedan Việt Nam là nhà sản xuất bột ngọt (Sodium Gluatamate) lớn nhất Đông Nam Á, sản phẩm của công ty không chỉ ở thị trường Việt Nam, mà còn bán sang các nước trên thế giới.

Nước sông Thị Vải bị ô nhiễm nghiêm trọng - Ảnh: Báo Nông Nghiệp
Khi phát hiện Vedan xả một lượng nước thải rất lớn ra sông Thị Vải với khổi lượng 5.000 m3/ngày một cách có hệ thống đã gây nên một làn sóng phẫn nộ từ cả truyền thông đến những người dân xung quanh.

Một việc ít ai biết được kể lại là : "Vụ Vedan bức tử sông Thị Vải được báo chí lên án mạnh mẽ và dư luận cả nước "sôi sục căm thù". Phản ứng rất nhanh, Vedan đã mời một số công ty truyền thông lớn để tư vấn cho họ giải quyết khủng hoảng truyền thông."

Đầu tiên, phải thống nhất với nhau rằng việc làm của Vedan là sai trái, thế nên việc xử lý trong khủng hoảng không quan trọng bằng việc giải quyết hậu khủng hoảng, nhằm "dọn dẹp chiến trường" và thể hiện nỗ lực lấy lại một hình ảnh đẹp. Vậy Vedan (và các công ty tư vấn) của họ đã làm thế nào?

Trong bài viết "mỗi báo có một con sông Thị Vải?, Tuần Việt Nam đã cho chúng ta biết đôi điều:
  1. Báo Sài Gòn tiếp thị có một phóng sự ảnh với cái tựa khá độc đáo "Và con sông đã vui trở lại". Cái tựa chỉ sửa một chữ trong tên gọi (và cả lời ca) một bài hát nổi tiếng! Nội dung giới thiệu trong phóng sự này cho biết: “Phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị đã theo chân ngư dân sông Thị Vải một đêm đánh bắt cá từ 5 giờ chiều đến 8 giờ sáng hôm sau. Mỗi đêm có khoảng trên 10 thuyền, và thu nhập cũng được vài trăm ngàn mỗi người. Những người dân ở đây cho biết nhiều người bỏ đi làm nghề nơi khác bắt đầu lục tục quay về".
  2. Cùng thời điểm đó, một bài viết tương tự trên báo Thanh niên cũng ra đời với tên gọi “Sông Thị Vải hồi sinh”. Bài viết này cũng đăng kèm những tấm hình ngư dân vui mừng tương tự phóng sự ảnh của báo Sài Gòn tiếp thị. Và có những tít phụ như: “Ngư dân Phước Thái đã cười...”, “Cơ quan chức năng cũng bất ngờ”. Trong bài, Thanh niên cũng khéo léo chú thích một trong hai bức ảnh: "Đánh bắt thủy sản ngay phía sau Công ty Vedan". 
  3. Sau đó vài tuần, bạn đọc cả nước ngạc nhiên khi đón nhận loạt bài 2 kỳ của báo Tuổi trẻ: Trở lại sông Thị Vải: "Cua, cá lèo tèo - thả tôm, tôm chết!" và "Sông Thị Vải vẫn hứng chịu nước thải ô nhiễm". Nội dung loạt bài và ảnh của Tuổi trẻ đối lập chan chát với những nội dung các bài báo của Sài Gòn tiếp thị và Thanh niên. Ý kiến của nông dân, ý kiến nhà khoa học… cũng khác hẳn!
Sông Thị Vải đã hồi sinh hay vẫn ô nhiễm? Tin nụ cười của ngư dân trên báo Thanh niên và Sài Gòn tiếp thị hay là gương mặt cay đắng của anh đánh cá ở báo Tuổi trẻ?

Vì đâu xảy ra sự tréo ngoe này giữa 3 tờ báo được coi là lớn và uy tín hàng đầu Vietnam như vậy? Câu chuyện mà +Long Velo  kể lại chính là mảnh ghép đầy đủ cho bức tranh :
Thông tin từ một nhà báo địa phương (H.B) cho Long VELO biết thời điểm ấy các PR Agency của Vedan hay tổ chức các cuộc "tiếp khách" tại Đồng Nai. Và loạt phóng sự bằng hình đăng trên tờ BB, AAAA có được sau một lần mà nhiều nhà báo được mời đi "thực tế". 
Nhà báo H.B cũng nhấn mạnh rằng việc Vedan mời các phóng viên báo bạn đi như vậy là hoàn toàn bình thường, và cách thức mà các PR Agency "sâu hàng" cũng tác động mạnh vào góc nhìn của nhà báo. Ví dụ như họ canh đúng thời điểm sau một trận mưa lớn để mời nhà báo đi thị sát. Khéo léo cho tàu cập vô thuyền nan của những ngư dân có mối quan hệ mật thiết với công ty để phóng viên tha hồ chụp hình những khoảnh khắc "vui sướng và hạnh phúc". Thậm chí, một quan chức của Vedan còn được mô tả lại là đã dùng tay hứng nước từ vòi sả thải của Vedan để đưa lên miệng uống. Hành động đó đã "đốn ngã" sự hoài nghi cần có của người làm báo.Đáng buồn là trong thực tế, đó chỉ là một vòi xả thải "đối phó".
Chuyến "vi hành" này phóng viên CC cũng được mời đi nhưng vì trong "thời điểm nhạy cảm" nên họ đã từ chối tham gia. CC thuê tàu riêng để đi xem xét tình hình. Và loạt bài 2 kỳ của CC được phản ánh không qua lăng kính của Vedan.
Một kinh nghiệm mà chúng ta cũng cần rút ra trong khi xử lý khủng hoảng là sự "đồng thuận" về tư tưởng ở những tờ báo có góc nhìn "đối nghịch". Vì thực trạng báo này nâng lên, báo kia đạp xuống vẫn diễn ra như cơm bữa và là một bài toán nhức đầu khó giải với những người làm truyền thông chuyên nghiệp
Không dừng lại ở đó, sự việc bị đưa ra pháp luật và Vedan đã chọn cách im lặng để giải quyết khủng hoảng: không thừa nhận, không một lời xin lỗi, không phản bác mà cũng không nhận trách nhiệm… chính sự dửng dưng của Vedan đã đẩy sự căm phẫn lên đến cao trào.

Chỉ khi bị yêu cầu bồi thường thì Vedan mới xuất hiện nhưng với một động thái giải quyết vấn đề rất chậm chạp. Trong suốt 1 năm, báo chí liên tục cập nhật dày đặc những tin như “Vedan mặc cả tiền bồi thường”, “Vedan lại cù cưa mặc cả”, “Nông dân đòi 53 tỷ đồng, Vedan 'mặc cả' 2,4 tỷ đồng”, “Vedan xin trả góp tiền bồi thường”…

Một làn sóng tẩy chay đã nổi lên, mở đầu với những lời kêu gọi trên mạng Internet. Tại Hà Nội, hầu hết các siêu thị lớn như Intimex, Fivimart, Big C không còn bán bột ngọt Vedan. Các siêu thị tại TP.HCM, như Big C, Saigon Co.op, Maxi Mart... cũng ngừng phân phối sản phẩm này.

"Phong trào" tẩy chay Vedan không chỉ rộ lên ở các siêu thị mà tại các chợ, các cửa hàng tạp hóa ở TPHCM, sản phẩm của công ty này cũng bị các tiểu thương ngưng bán hoặc đang tiếp tục "đình chỉ", còn người tiêu dùng thì "quay lưng".

Khi người dùng quay lưng, hình ảnh thương hiệu (brand image) xấu xí cũng có nghĩa là thương hiệu đã chết. Có lẽ chưa bao giờ người ta ý thức một cách rõ ràng quyền lực to lớn của người dùng Việt như lúc này. Không phải cơ quan nhà nước, không phải các danh hiệu được bầu chọn mà đôi khi mức độ tin cậy còn khiến nhiều người phải hoài nghi mà chính người tiêu dùng mới là người quyết định sự thành hay bại của một doanh nghiệp.

Dù Vedan rất nỗ lực khôi phục lòng tin, nhưng kết quả thế nào vẫn còn ở phía trước, chưa kể đã có nhiều thay đổi về thói quen của người người dùng sản phẩm. Bạn có thể tự mình kiểm chứng: Gia đình bạn có mua sản phẩm của Vedan hay sẽ tẩy chay vĩnh viễn? Bếp nhà bạn có bột ngọt hay đã thay thế bằng bột nêm Knorr, Maggi ?

Coca-Cola và nghi án "chuyển giá"



Theo thống kê của Cục thuế TPHCM, chỉ trong vòng 4 năm (từ 2007-2010), tổng doanh thu của hãng Coca Cola tại Việt Nam đã tăng từ 1.000 tỷ lên hơn 2.500 tỷ đồng, gấp 2,5 lần, còn doanh số bán hàng thì tăng gần gấp 3 lần.

Ông Nguyễn Trọng Hạnh, nguyên Phó Cục trưởng Cục thuế TPHCM cho rằng, nguyên nhân có thể được Coca Cola đưa ra là giá nguyên phụ liệu quá cao. “Nguyên liệu chính để tạo ra sản phẩm nước giải khát Coca Cola là hương liệu. Chúng tôi thấy giá hương liệu này chiếm tới 70% trên giá trị sản phẩm, trong đó hầu hết các doanh nghiệp khác trong lĩnh vực đồ uống thì tỷ lệ này chỉ chiếm khoảng 30%. Và giá thành này lại được công ty mẹ áp đặt. Do đó, chúng ta có thể đặt câu hỏi mức giá này có đắt hay không?”.  
      


Nguyên phụ liệu được mua độc quyền từ chính công ty mẹ ở nước ngoài, chuyện giá thành cao-thấp như vậy nằm trong bí mật nội bộ của Coca Cola. Các chuyên gia lĩnh vực thuế cho rằng, việc đẩy giá nguyên phụ liệu lên cao khiến công ty con có thể lỗ, nhưng tập đoàn mẹ thì sẽ lãi. Vậy là công ty con sẽ tránh được thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thực tế, Coca Cola gần như chưa phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam. Một phân tích chuyên gia được đăng tại Stox "đi sâu làm rõ một điểm quan trọng rằng cơ quan thuế sẽ không thể giải quyết triệt để một sớm một chiều. Cũng như ở các thị trường khác, những “thượng đế” và công luận, đặc biệt là giới báo chí chuyên ngành kinh tế tài chính mới là người có thể tạo nên một áp lực đủ lớn để Coca Cola cũng như các tập đoàn khác đang hoạt động tại Việt Nam thay đổi quan điểm về nghĩa vụ thuế của họ. Hơn thế nữa, đây còn là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chứ không chỉ đơn thuần là nghĩa vụ thuế."

Điều này có thể hiểu là về mặt pháp luật, Coca-Cola sẽ không gặp vấn đề gì nhưng với công luận, người dùng thì không đơn giản thế. Cùng một danh sách gần 1.500 doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá ngoài Coca-Cola còn có Metro Cash & Carry, Pepsi, Adidas nhưng dường như Coca-Cola là một thương hiệu "nhạy sáng" hơn bao giờ hết, không chỉ trên báo chí, blog mà ngay cả trên mạng xã hội.

Tin tức liên quan tới Coca Cola Việt Nam
Khi người tiêu dùng lên tiếng!
Chủ đề COCA COLA VN CÓ DẤU HIỆU “CHUYỂN GIÁ”. CÓ NÊN TẨY CHAY? tại Anphabe

Một số ý kiến tại Anphabe
Tin tức lúc này có vẻ xấu hơn bao giờ hết khi mọi chuyện lại được làm nóng trước thềm Tết Nguyên Đán, thời điểm bán hàng tốt nhất trong nhất trong năm với ngành đồ uống (F&B).

Khi đã ghi dấu một hình ảnh lợn cợn ngay khi sát thời điểm quyết định mua hàng là một điều không may? Bạn sẽ làm gì nếu ở vai trò cầm quân Coca Cola ở thời điểm này, ngay trước cơ hội bán hàng khủng nhất trong năm?

Khi có khủng hoảng, nhất là khi doanh nghiệp của bạn đứng trước nguy cơ bị tẩy chay, bạn sẽ làm gì?

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012

Marketing nhân dịp Olympic

Thế vận hội Mùa Hè hay Olympic Luân Đôn 2012 vừa khai mạc cách đây vài hôm là cơ hội không thể bỏ qua cho các thương hiệu thực hiện các chiến dịch Marketing vì tính hấp dẫn của cuộc tranh tài đối với khách hàng mục tiêu. Tại Việt Nam, các sự kiện như SeaGame,V-Language, Worldcup luôn thu hút người hâm mộ cũng như làm bùng cháy tinh thần dân tộc.


Làm sao để kết nối với trái tim khách hàng, cùng sống với họ trong tình yêu thể thao để qua đó giúp hình ảnh thương hiệu đẹp hơn, khách hàng yêu thích và dùng sản phẩm, dịch vụ nhiều hơn.

Các chiến dịch phổ biến thường là dự đoán kết quả - đặc biệt phổ biến ở các giải bóng đá, bốc thăm trúng thưởng, tặng lịch thi đấu ..  Làm sao để chiến dịch và thông điệp của thương hiệu mình phụ trách không chìm nghỉm trong rất nhiều họat động? Chúng ta hãy cùng khám phá một số ý tưởng mà các thương hiệu lớn đã thực hiện để marketing nhân dịp Olympic 2012.

Adidas và David Backham gây bất ngờ và làm người hâm mộ rơi nước mắt khi Backham đột ngột xuất hiện cùng họ chụp hình cổ vũ cho đội tuyển Anh.


Volkswagen có một chiến dịch độc đáo tại Hà Lan: đua xe hơi nước rút 100m bằng động cơ "la hét". Bạn chỉ có thể làm chiếc xe di chuyển bằng âm thanh vì xe đua không có chân ga.


Visa Card  "đem đến cho người tiêu dùng các vận động viên bản địa và chính họ sẽ là người kể những câu chuyện độc đáo của mình về cách họ trở thành niềm hy vọng của Olympic. Điều này thực sự tôn vinh giá trị của các vận động viên và tinh thần Olympic"

Visa thực hiện chiến dịch “Go world” (tạm dịch: tiến ra thế giới) phục vụ Olympic nhằm tôn vinh tinh thần Olympic toàn cầu, với những quảng cáo được phát khắp nước Mỹ, Canada, Trung Quốc, Nga và Nhật Bản (Các agency như TBWA\Chiat\Day, AKQA và GMR cũng phối hợp thực hiện nỗ lực này).

Kevin Burke, người điều hành hoạt động Marketing cho người tiêu dùng trên toàn cầu của Visa cho biết: "Chiến dịch này thực sự nhằm tôn vinh các vận động viên và thành tựu của con người thông qua những câu chuyện độc đáo của họ. Tất cả mọi câu chuyện nằm trong một nỗ lực mang người hâm mộ xích lại gần những vận động viên tham gia tranh tài tại Olympic. Điều mà chiến dịch này mang đến cho chúng tôi là một sự hỗ trợ, cho phép người tiêu dùng trải nghiệm những điều kỳ diệu của Olympic và đồng thời xem Visa như là một thương hiệu thực sự đang hỗ trợ cho từng bước phát triển của Olympic. Điều đó tác động tích cực đến người tiêu dùng và một lần nữa, người tiêu dùng xem dịch vụ của chúng tôi như một hình thức chi trả được ưa thích và chấp nhận rộng rãi."

Cứ như thế, bằng cách kể những câu chuyện độc đáo, nổi bật một cách thống nhất trong nhiều năm là một ví dụ rõ ràng nhất cách thức triển khai một ý tưởng lớn.



Gillette  thực hiện một chiến dịch không thể hoàn hảo hơn với Holograms, projectors trên các toà nhà, các bức tường và cuối cùng là trên mặt nước tại Boston

Hình ảnh, ánh sáng và nước với các hình ảnh ba chiều dài khoảng 18m của các vận động viên Mỹ được hiện ra trên tất khắp các toà nhà ở Boston và đỉnh điểm là một màn trình diễn với nước được hỗ trợ bởi hàng chục máy chiếu. Nếu bạn vẫn chưa biết holograms là gì, bạn có thể xem thêm tại đây, đây.



Cadbury tặng vé tham dự Olympic cho người hâm mộ với trung tâm của chiến dịch là Online Marketing.


Không phải ai cũng có cơ hội để trải nghiệm các sự kiện thể thao lớn, nhưng chắc hẳn ai cũng có nhu cầu muốn nhìn thấy sân vận động, muốn biết ở đó trông như thế nào.

Vào Thế vận hội mùa đông 2010 (Winter Olympics) tại Vancouver, Canada, Google chọn cách rất thông minh để kết nối người dùng vào sản phẩm của mình:  khám phá khu vực tổ chức Olympic với Google Street View : bạn có thể ngồi tại nhà để trải nghiệm.


Được sáng tạo bởi Daniel Ratner cho sự kiện đặc biệt này, giúp người dùng trải nghiệm cảm giác tuyết rơi với một hai chiếc xe ba bánh, trang bị camera có thể quay được 360 độ và GPS để "chụp những bức ảnh tuyệt đẹp và sẵn sàng cho người xem trên toàn thế giới có được trải nghiệm như thật trên những sườn dốc"




Và đây là thông điệp để vận động cho kỳ thế vận hội kế tiếp: Olympic 2016 tại Rio, Brazil. Chỉ trong vòng 2 phút 24 giây, làm sao để làm nổi bật tất cả những điểm đặc sắc nhất của Rio để thuyết phục các quốc gia khác bỏ phiếu bầu chọn cho mình trở thành nước đăng cai Olympic, vượt qua các đối thủ mạnh như Chicago với sự hậu thuẫn của Tổng thống Obama, Tokyo với ý tưởng Green Game?



Các sự kiện thể thao cũng là cơ hội để tiếp thị hình ảnh quốc gia đăng cai, tăng lượng khách du lịch và kích thích kinh tế phát triển.

Một hình ảnh còn hơn nghìn lời nói, chúng ta hãy cùng xem những hình ảnh tuyệt đẹp về thành phố RIO từ website chính thức của họ. Những hình ảnh này sẽ quen nếu bạn đã từng xem Rio Rio, một bộ phim họat hình được lồng tiếng Việt. Hãy xem bạn có bị hấp dẫn muốn du lịch RIO ngay không nhé!





Thứ Năm, 19 tháng 7, 2012

Học Marketing rồi làm việc ở đâu?

Nếu câu trả lời của bạn là "không biết" - có lẽ sẽ giống trường hợp bạn tìm thấy chiếc thuyền và bắt đầu bơi ra biển mà không biết sẽ bơi đến đâu và điều gì đang chờ mình ở bờ bên kia!



Bài viết sẽ giúp bạn hiểu rõ và phân biệt về hai loại công ty bạn có thể làm việc sau khi học marketing!
Đây là bài viết tổng hợp thông tin từ loạt bài tại đây, đây và đây giúp bạn phần nào hiểu rõ hơn về công việc Marketing tại Việt Nam!

1.Học Marketing để làm gì?
Trong lớp học và trong nhiều sách textbook căn bản, chúng ta được nghe đến 4P của marketing: Product, Price, Place & Promotion. Chỉ riêng mỗi “P” cũng đã là một lĩnh vực mênh mông – nên rốt cuộc là mỗi chúng ta, đặc biệt là các bạn sinh viên mới ra trường – có thể đóng góp gì và nên bắt đầu ở đâu? Để trả lời câu hỏi trên thì chúng ta cần phải trả lời một câu hỏi trước đó: “Bạn sẽ làm marketing tại loại công ty nào?”.

Khi nhắc đến marketing, thì với tư cách là một người tiêu dùng – chúng ta thường nghĩ đến những ấn phẩm quảng cáo (nhiều nhất có lẽ là TVC quảng cáo) của các nhãn hàng như Omo, Pepsi, Coca Cola, … Chúng ta xem những đoạn quảng cáo đó từ lúc còn bé tý (và thật sự trẻ em hầu hết đều rất thích xem quảng cáo), xuýt xoa rằng sao đoạn phim chỉ chiếu trong một thời gian ngắn (30s) mà lại có thể truyền tải nhiều ý nghĩa như vậy. Chúng ta lớn lên với mong muốn “mình cũng muốn làm ra 1 mẫu quảng cáo như vậy” và ta nghĩ rằng ta thích marketing.

Lớn lên một chút, nhất là khi vào đại học – ta được biết Omo, Pepsi, Coca, Kinh Đô … chỉ là những nhãn hàng (brand) của một tập đoàn – và một tập đoàn có rất nhiều nhãn hàng. Ta ồ lên thích thú khi biết rằng Omo, Viso, Surf, Dove, Pond’s, Vaseline … đều là của Unilever, và Pepsi, Sting, 7-up, Twister … cùng thuộc về Pepsi Co.

Ta đọc sách marketing, và thấy rằng ngoài những mẫu TVC, những mẫu Print-Ads thì còn có những chiến lược về thương hiệu, sản phẩm, phân phối và giá cả. Ta say mê những quyển sách như “22 quy luật bất biến của marketing” (Al Ries & Jack TRout), “Khác biệt hay là chết” (Jack TRout), “Quảng cáo thoái vị, PR lên ngôi” (Al Ries & Laura Ries). Ta thấy thế giới marketing thật rộng và thật đẹp Và ta tự nhủ rằng Unilever, Pepsi là những điểm đến lý tưởng, và ta sẽ được làm những mẫu quảng cáo tuyệt vời mà ta đã và đang xem trên TV.

2. Client và Agency, bạn sẽ làm ở đâu?
Nhưng sắp tốt nghiệp đại học, ta lại nghe về một phân ngành khác của marketing gọi là “agency” – hay còn gọi là những công ty “cung cấp dịch vụ tiếp thị và quảng cáo”, và chính những công ty này mới là người trực tiếp làm ra những đoạn TVC, những mẫu Print-Ads (quảng cáo báo) mà chúng ta từng xuýt xoa, còn các tập đoàn như Unilever, Pepsi chỉ làm những khâu “đầu-cuối”: đưa  ra yêu cầu và lựa chọn giải pháp từ agency.

Và khi thử ứng tuyển vào những công ty agency này, thì họ lại không yêu cầu nhiều về những tư tưởng/chiến lược mà ta hằng ấp ủ - thay vào đó lại hỏi về những kỹ năng rất …tỉ mỉ: tiếng Anh, kỹ năng sáng tạo, kỹ năng thuyết trình, định hướng nghề nghiệp … Cảm giác như họ chẳng hề trân trọng chút kiến thức marketing nào chúng ta đã được dạy và tự học trong suốt khoảng thời gian đại học?

Vậy là sao?
Thật ra điều này rất bình thường, vì trong ngành marketing (marketing industry) có nhiều loại công ty và nhiều phân ngành nhỏ. Và mỗi loại công ty – mỗi phân ngành lại yêu cầu/đề cao những giá trị khác nhau của một nhân sự.

Hãy bắt đầu bằng khái niệm thân quen nhất: “4P”. Để thật sự làm việc có liên quan hết đến 4P – Sản phẩm – Giá Thành – Bày bán – Chiêu Thị, thì bạn cần làm việc tại những tập đoàn như Unilever, Pepsi, … Đây là những công ty sản xuất (manufacturing companies) – họ sáng tạo, sản xuất và chiêu thị để bán được sản phẩm cho người tiêu dùng (consumers). Và trong ngành marketing, họ được gọi là “client” hay “advertiser” – khách hàng, hay người chi tiền quảng cáo.

Vậy nếu những công ty như Unilever là “khách hàng” thì ai sẽ phục vụ họ?

Đó là những công ty “agency” – những công ty dịch vụ tiếp thị. Nếu các bạn có tìm hiểu sâu, chúng ta sẽ nghe về những cái tên Ogilvy & Mather (O&M), Saatchi & Saatchi, Dentsu, Leo Burnett …

Đó đều là những công ty thuộc về phân ngành “công ty quảng cáo” – “advertising agency”. Và nếu các công ty “client” chịu trách nhiệm trên 4P của một sản phẩm, thì hầu như các công ty agency đều chỉ làm việc trên “P” cuối cùng: Advertising & Promotion – Quảng cáo truyền thông.

Nói ngắn gọn, “agency” là những công ty dịch vụ cung cấp các sản phẩm sáng tạo và truyền thông.

3. Cơ hội nghề nghiệp với marketing Agency
Về phân ngành agency thì thật sự là một thế giới rất mênh mông, trong đó tạm chia thành 4 phân ngành nhỏ hơn:


1. Công ty quảng cáo - Advertising agency: là những công ty cung cấp dịch vụ tư vấn dựa trên chuyên môn cao (expertise) về thương hiệu (brand), truyền thông (communication) , sáng tạo (creativity) và thực thi (execution).Các công ty nổi tiếng trong ngành như Ogilvy & Mather (Mỹ), JW Thomson (Mỹ), Saatchi & Saatchi (Anh), Dentsu (Nhật), Cowan (Úc) …


Nếu bạn có hứng thú phát triển nghề nghiệp trong ngành Marketing Communication? Donald Dung nhắn riêng với các bạn : bạn có thể tìm hiểu và trải nghiệm ngay với buổi học thử MIỄN PHÍ của khóa học Account Management tại đây.


2. Công ty truyền thông -  Media agency: là những công ty sử dụng sự thấu hiểu về người tiêu dùng và các công cụ truyền thông để truyền tải những sản phẩm sáng tạo (từ client và advertising agency – ví dụ như TVC, Print-Ads) đến với người tiêu dùng tiềm năng.

4 tập đoàn truyền thông lớn nhất tại Việt Nam:
  • GroupM (bao gồm 4 công ty bắt đầu bằng chữ M: Mindshare, Mediacom, Maxxus, MEC), 
  • Publicis (bao gồm 5 công ty Starcom, Zenith, Opti, Equinox và Performics), 
  • Dentsu Asia Network (bao gồm 3 công ty Dentsu Vn, Dentsu Alpha và Dentsu Media) 
  • Đất Việt Group – VAC (bao gồm các công ty như Đất Việt Media, TKL Media, Đông Tây Promotions …)
Bên dưới là thông tin tóm tắt  về các tập đoàn quảng cáo lớn nhất thế giới.


Bạn có thể xem chi tiết về lịch sử các công ty này, cũng như các công ty mà họ đã thâu tóm tại đây. 

3.  Công ty nghiên cứu thị trường – market research agency: khác với 2 loại agency trên, thì agency về nghiên cứu thị trường tham gia rất sâu vào cả quá trình xuyên suốt của 4P từ thử nghiệm ý tưởng sản phẩm (product test) đến đo lường hiệu quả truyền thông…Các công ty nổi tiếng trong mảng này như AC Nielsen – nay là Nielsen, Taylor Nielsen – hay còn gọi là TNS, nay là Kantar Media, FTA (agency Việt Nam), Epinion (agency Đan Mạch) …

4.  Các dịch vụ hỗ trợ: là những công ty cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho ngành như quay phim, chụp hình, lồng tiếng …

4. Làm việc tại client và agency khác nhau thế nào
Trong khi 90% các bạn sinh viên thích và học ngành marketing khi ra trường đều mặc định là mình muốn làm việc tại client, thì rất ít bạn biết hay chịu khó tìm hiểu về môi trường agency. Liệu tố chất của bạn phù hợp với client hay agency – hãy cùng xem mô tả công việc, lợi ích và áp lực của từng phân ngành nhé.

A – Các công ty khách hàng (client)
Như đã nhắc đến – làm tại các công ty khách hàng (client) có nghĩa là “làm nhiều việc cho một người”. Nếu bạn làm trong Brand team của Omo chẳng hạn, thì bạn sẽ tham gia vào tất cả các quy trình (trừ sản xuất) của sản phẩm từ giai đoạn đầu đến lúc đến tay người tiêu dùng: test sản phẩm, test concept truyền thông, lên kế hoạch communication & trade cả năm, brief cho agency, thực hiện cùng agency, đo lường  - quản lý và tối ưu hóa các chiến dịch truyền thông và bán hàng.




Marketer làm việc tại client là phải "nhiều việc cho một người"
1. Với một môi trường làm việc đa dạng (tiếp xúc với nhiều loại đối tác: nghiên cứu thị trường, quảng cáo (agency), truyền thông (media) đến cả những nhà bán lẻ (Retailer: Co-op Mart, Big C, Metro …) thì bạn sẽ học được rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm 

2. Từ những kiến thức và kinh nghiệm đó – kết hợp với những tài liệu nội bộ công ty  - thì bạn sẽ có một sự hiểu biết sâu sắc về sản phẩm và ngành hàng của sản phẩm đó.

Ví dụ, nếu bạn làm tại brand Omo (bột giặt), thì bạn sẽ hiểu biết về rõ về tính năng của sản phẩm Omo, Omo khác biệt các sản phẩm bột giặt cùng công ty (Surf, Viso) và khác biệt với các sản phẩm đối thủ (Tide) như thế nào – hiểu những xu hướng và phân khúc của thị trường giặt tẩy và các đối thủ khác phân ngành. Ví dụ khi P&G ra mắt nước giặt Ariel thì đó cũng được xem là một đối thủ cạnh tranh không trực tiếp với bột giặt Omo (cùng là giải pháp giặt tẩy).

3. Trên những cơ sở hiểu biết về sản phẩm, ứng dụng vào thị trường, hiểu điểm mạnh điểm yếu cũng như các xu hướng của người tiêu dùng, bạn sẽ dần hình thành một cảm quan (sense) về sản phẩm của mình và thị trường.

Đó là lý do tại sao những người làm Brand Manager cần khoảng 5-8 năm kinh nghiệm, để hình thành một cảm quan nhạy bén và đúng đắn, để đưa ra lựa chọn cuối cùng trên những đề xuất của các công ty dịch vụ (agency).

Đi kèm với những lợi ích đó cũng là áp lực. Khi bạn làm ở client, làm ở brand thì bạn phải là người chịu mục tiêu: mục tiêu về doanh số (sales), sức mạnh thương hiệu (brand health) hay thị phần (market share). Bạn là cha mẹ ruột của thương hiệu đó, của đứa con tinh thần – và bạn phải chăm sóc nó mỗi ngày. Khi đó bạn sẽ không bao giờ có thể ngừng suy nghĩ về doanh số, về số lượng (unit) bán ra mỗi giờ, mỗi ngày. Vì vậy, công việc về bên phía khách hàng (client) không mang nhiều tính sáng tạo như các bạn trẻ hay hình dung, mà phần nhiều về quản lý và giao tiếp kết nối (giữa nhiều đơn vị). Làm tại brand có nghĩa là bạn tự hào với trách nhiệm của mình, bạn yêu brand và business của bạn – và cố gắng cải thiện qua từng tháng ngày.

Một ghi chú nhỏ cuối cùng: trong khi hầu hết mọi người hình dung là áp lực khi làm tại client, nhất là làm tại brand đến từ môi trường bên ngoài (đối thủ cạnh tranh, chính sách …) thì có nhiều người chia sẻ áp lực lớn nhất lại đến từ chính môi trường bên trong client: cụ thể là áp lực đến từ bộ phận Bán hàng (Sales).

Bạn hãy hình dung thế này:
  • Anh A là Sales Manager – ngành hàng Bột Giặt của Unilever, anh A chịu mục tiêu doanh số cho toàn ngành bột giặt (vd 500 triệu Euro năm 2012), và nắm trong tay một nguồn lực có hạn (500,000 điểm bán và 1 triệu USD ngân sách trade marketing).
  • Unilever về bột giặt có 3 nhãn hàng:
    • Omo (Brand Manager là anh B)
    • Viso (Brand Manager là anh C)
    • Surf (Brand Manager là anh D).
  • Và anh A sẽ là người quyết định tập trung vào sản phẩm nào nhiều nhất để đạt được doanh số sales.

    Có nghĩa là nếu bạn là một trong 3 brand manager trên, thì việc đầu tiên và cần thiết nhất của bạn là thuyết phục được bên Sales tin tưởng vào sự thành công của chiến dịch bạn đưa ra và dành nguồn lực cho bạn (số bảng biển tại cửa hàng, ngân sách hỗ trợ bán lẻ …). Thuật ngữ trong ngành thường gọi là “win được support của sales”. Vì vậy, đối với các Brand Manager thì buổi thuyết trình chiến dịch hàng quý cho sales (gọi là Sales Pitch) là cực kỳ quan trọng, vì nếu Sales không support bạn thì không cách nào bạn đạt được mục tiêu về doanh số. Và tất nhiên, bản thân bộ phận Sales cũng có những “kiêu hãnh và định kiến” của họ - hãy hình dung: chỉ cần Omo (vốn chiếm 70% thị trường) tăng 5% doanh thu thì đã đủ target, trong khi nếu Viso thì sẽ phải tăng 50% doanh thu (vốn là khó hơn rất nhiều).

    Nên phần thiệt thòi và cần nỗ lực nhiều hơn là những bạn làm tại những brand nhỏ. Ví dụ tại Unilever thì ngành hàng giặt tẩy (laundry) và chăm sóc tóc (haircare) là được ưu ái nhất, mà cụ thể là 2 “con bò vắt sữa” (cash cow) là Omo và Clear. Còn ngành hàng Lăn khử mùi (deodorant) bao gồm Dove, Pond’s, Rexona, AXE …thì với đóng góp chưa đến 5% doanh thu, sẽ cần phải cố gắng rất nhiều.

    Làm tại Unilever cũng rất tuyệt, nhưng cũng nên lưu ý là làm tại brand nào của Unilever nữa 
B – Agency
Đối với công ty agency, thì sự chuyên chính và tập trung (focus) là điều được trân trọng: khi bạn làm tại agency tức là bạn làm “một việc cho nhiều người”. Việc đó có thể là tư vấn thương hiệu, sáng tạo quảng cáo, tổ chức sự kiện hay tiếp thị kỹ thuật số … việc gì cũng được miễn là việc đó có giá trị với khách hàng và tiêu chuẩn các dịch vụ của bạn thật sự cao.

Với agency thì câu “một nghề cho chín còn hơn chín nghề” áp dụng rất chính xác.
Người làm ở agency sẽ rất chuyên chính vào nghiệp vụ (expertise) của mình – và khách hàng cũng trân trọng sự chuyên chính đó. Vì chỉ riêng trong một chuyên môn thì bạn đã có rất nhiều thứ để làm: làm tốt nhất những điều mình đang có, luôn phải cập nhật những thông tin và xu hướng mới nhất của thị trường và người tiêu dùng, trau dồi kiến thức và ý tưởng...

Có những tập đoàn/công ty quảng cáo rất nổi tiếng – và họ chỉ làm một hay một số việc: ví dụ Leo Burnett chỉ tập trung làm về thương hiệu & quảng cáo sáng tạo (brand, branding & advertising) – Cowan chỉ tập trung vào thiết kế bao bì (packaging design) … 



Hầu như khái niệm “full-services agency” (công ty cung cấp đầy đủ dịch vụ) là rất khó tồn tại – trừ những nhóm công ty “cùng họ” như:
  • Ogilvy & Mather: có O&M là về advertising, Ogilvy PR (đã sáp nhập với T&A thành T&A Ogilvy) là về PR & Event, Ogilvy Action về Activation, Ogilvy One (đã mua lại Who Digital)
  • JWT, Bates 141, Y&R, Wunderman, TNS, Kantar Media, GroupM (Mindshare, Maxxus, MEC, Mediacom) ...đều là những công ty thuộc tập đoàn quảng cáo WPP (tập đoàn này có hơn 400 công ty quảng cáo và chiếm 65% thị phần quảng cáo trên toàn thế giới). Chỉ có "tập đoàn full services" chứ không thể có "agency full services"
Điểm được nhiều người yêu thích nhất khi làm tại agency là nét tươi mới trong công việc mỗi ngày. Việc được tiếp xúc với nhiều sản phẩm, ngành hàng, vấn đề & mục tiêu … luôn giữ cho đầu óc thật “mở”. Một câu khá đúng với ngành agency:
“Đầu óc cũng giống như chiếc dù – nó hoạt động tốt nhất khi nó rộng mở”
“Minds are just like parachutes – it works best when it opens”

Thật sự công việc trong ngành agency tươi mới đến mức đôi khi “không thể đoán trước được” (unpredictable). Bạn bước vào công ty và sếp nói: “em ơi, vào họp – có brief mới”, và bạn có thể mỉm cười tự hỏi trong đầu “lần này sẽ là cái quái gì nhỉ?” – có thể là một hãng bảo hiểm trang nghiêm, một nhãn mỹ phẩm kiêu sa, một nhãn sữa thân thiện hay …băng vệ sinh/bao cao su cũng chẳng biết được.



Trong ngành agency, sự bận rộn là điều không thể tránh nhưng cần hạn chế. Nghĩa là sao nhỉ?
“Không thể tránh” là vì sẽ có những lúc tất cả khách hàng của bạn cùng làm truyền thông (ví dụ vào dịp Tết chẳng hạn) – thế là bạn sẽ vắt chân lên cổ để chạy.

 “Cần hạn chế” có nghĩa là sau những lúc như vậy, bạn cần phải tỉnh táo để “về thành dưỡng sức” cũng như trau dồi thêm vốn sống & kiến thức. Nói ngắn gọn, nếu người nào làm trong agency “có làm mà không chơi” thì sẽ rất sớm bị kiệt quệ, cả về thể lực – tinh thần lẫn vốn sống. Như một anh bạn làm Creative Director từng chia sẻ:
“Làm sáng tạo dễ lắm. Sống sáng tạo mới khó”
– làm quảng cáo là sống với nghề, là mang cái “tôi” của mình ra để thẩm thấu cái “ta” của người tiêu dùng và khách hàng.

Một điểm khác khiến công việc tại agency càng hấp dẫn hơn là sự “thư thái đầu óc” (free of mind). Vì người làm tại agency là người đang bán những sản phẩm truyền thông (communication product) chứ không phải sản phẩm hữu hình, và việc bán hàng này diễn ra khá đơn giản – khi khách hàng (client) là người trực tiếp ra quyết định. Và đo lường chất lượng của sản phẩm đó là những con số về mức độ nhận biết, độ yêu thích, … những chỉ số có phần “cảm tính” chứ không phải lời/lỗ - doanh số cụ thể của sản phẩm hữu hình. Người làm tại agency đã, đang và sẽ “đưa ra những lời đề nghị” (make recommendation) và không được/phải chịu trách nhiệm về quyết định cuối cùng (vì đó là quyết định của công ty khách hàng).

Một chiến dịch truyền thông không tốt -> doanh số không tăng (hay tệ hơn là giảm) – khách hàng không hài lòng và agency đó có thể mất khách hàng đó. Một chiến dịch truyền thông tuyệt vời, nhận thức cao chót vót, khác biệt của sản phẩm nêu rạch ròi và mạch lạc, doanh số bán hàng tăng ầm ầm thì agency nhận lại là những lời khen của khách hàng, và (không chắc chắn) được làm những dự án tiếp theo. Chính vì sự “giữa chừng” đó (xin đừng gọi là “nửa vời” – vì agency trách nhiệm chính là tư vấn, cũng chỉ là “người đưa đò”) nên những vinh dự hay phần thưởng lớn nhất sẽ không dành cho agency.

Và thật sự với một chiến dịch truyền thông trị giá hàng tỷ đồng (40,000 USD – khoảng hơn 800 triệu, là mức giá làm TVC của các tập đoàn quảng cáo hàng đầu tại Việt Nam) thì doanh nghiệp khách hàng có thể nhận lại những lợi ích vượt trội hơn rất nhiều (số lượng bán hàng và lợi nhuận tăng lên nhiều) còn agency thì chỉ là chi phí dịch vụ và những showcase trong hồ sơ năng lực (credentials).

Nên, nếu nhìn lại thì giá trị lớn nhất của agency chính là thương hiệu của agency đó. Những tập đoàn quảng cáo hàng đầu đều có những giá trị, tiêu chuẩn và triết lý của mình.

Thậm chí, những người sáng lập huyền thoại như David Ogilvy hay Leo Burnett còn để lại những tài liệu về việc “when to take my name off the door” – “khi nào thì nên gỡ bỏ tên tôi khỏi công ty quảng cáo này”: đó là khi công ty chỉ chạy theo lợi nhuận, mà xa rời những giá trị hay tiêu chuẩn của chính mình. Chính vì vậy, David Ogilvy – người được mệnh danh là “ông tổ của ngành quảng cáo” đã để lại những lời răn rất đáng nghiền ngẫm:



“Người tiêu dùng không phải lũ mọi rợ. Họ chính là vợ bạn”
“Đừng bao giờ làm quảng cáo cho một sản phẩm mà bạn không muốn gia đình bạn sử dụng”
“Sử dụng sản phẩm của khách hàng không phải là sự xu nịnh, mà là phép lịch sự tối thiểu”
Và thương hiệu của các agency – tất cả đều được xây bởi con người.

Vì vậy, những người đứng đầu mỗi agency – Managing Director, Account Director, Creative Director, Director of Strategic Planning – phải hiểu rất rõ những giá trị và tiêu chuẩn của agency mình đang đại diện. Làm agency, làm marketing communication là một con đường học hỏi và tìm tòi vô tận – nơi đó giới hạn của bản thân mình là do chính mình đặt ra.

Người làm marketing nói chung, hay agency nói riêng, phải luôn “đói khát và vụng dại” (như lời của thiên tài Steve Jobs) – “đói khát” để luôn học, luôn hỏi, luôn làm mới chính mình – “vụng dại” để luôn tò mò, luôn mở rộng đầu óc và tấm lòng.

Hy vọng bạn đã hiểu rõ hơn về công việc marketing và tin vào lựa chọn của chính bạn!
Chúc bạn một sự nghiệp thành công ở ngay phía trước!