Thứ Ba, 31 tháng 7, 2012

Tăng Tốc Sao Chép Tới 300% với WinMend File Copy 1.4

WinMend File Copy là một phần mềm giúp bạn tăng tốc quá trình sao chép mặc định của hệ thống lên tới 300%...

WinMend File Copy là một công cụ sao chép file hàng loạt xuất sắc và miễn phí. Dựa vào thử nghiệm rộng rãi và bằng cách luôn luôn tối ưu hóa khả năng của hệ điều hành, WinMend File Copy phát triển một kỹ thuật độc đáo mà tăng tốc độ sao chép file lên 3 lần so với mặc định của hệ thống. Nó có thể tiếp tục việc sao chép bị gián đoạn và hiển thị danh sách các file bị lỗi, chẳng hạn như các file đang được sử dụng bởi ứng dụng khác. WinMend File Copy là phần mềm sẽ giúp bạn tăng tốc sao lưu hệ thống.

+ Khi sao chép các file lớn và số lượng lớn các file, công cụ nhân bản độc đáo của phần mềm này làm việc nhanh hơn 300% so với mặc định hệ thống, và tiết kiệm cho bạn nhiều thời gian.
+ Nếu việc sao chép bị gián đoạn vì những lý do khác nhau như hệ thống treo, nó có thể tiếp tục lại từ điểm bị gián đoạn khi bạn chạy lại ứng dụng này
+ Khi quá trình sao chép hoàn thành và nếu có file nào mà lỗi vì bất kỳ lý do gì, chúng sẽ được hiển thị trông một danh sách với các chi tiết lỗi. Bạn có thể sao chép chúng lại bất cứ lúc nào.
+ Chương trình có ba chế độ sao chép cho bạn lựa chọn: "Skip files of the same name", "Match and overwrite files of the same name" và "Overwrite files of the same name".
+ Quá trình sao chép có thể được tạm dừng bất cứ lúc nào để làm giảm % sử dụng CPU và không gian đĩa, nên bạn có thể thực hiện những tác vụ khác nhanh hơn. Bạn có thể tiếp tục sao chép khi những tác vụ khác được hoàn tất. Tính toàn vẹn của file đang sao chép sẽ không bị ảnh hưởng.

Home Page - Trang Chủ:

Click Download -> WinMend File Copy 1.4.0

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2012

Sông ơi đừng chảy - Tân Nhàn



Đừng chảy nữa sông ơi
Nhớ chăng mặt hồ,
nhớ chăng mặt hồ, phẳng lặng...
Phẳng lặng như chiếc gương soi
Phẳng lặng soi áng mây trôi
Mây trôi đồng lần...
Nợ nần giăng giăng...
Đừng chảy nữa sông ơi
Nhớ chăng chiều về
Nhớ chăng ngày về, vội vàng...
Vội vàng kìa gió qua khe
Vội vàng cả ánh trăng khuya
Góc đêm mạng nhện...
Nợ nần giăng giăng...
Giăng giăng ngày ngày
Giăng giăng tình tình giăng ... í a
Sông không về nguồn
Ta không về được những kỷ niệm ấu thơ
Cơn mê mệt nhoài
Li ti những hiện thực vừa vút qua
Sông không dừng lại
Như ta không thể nào neo bóng em yêu...
Đừng chảy nữa sông ơi ...một lần
Cho ta tìm lại...những nhọc nhằn...quá giang...

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2012

Các phương pháp giúp giải phóng không gian bộ nhớ

Sự thật là không gian ổ đĩa của bạn rất dễ dàng bị lấp đầy, dù bạn có một ổ đĩa cứng đồ sộ hay gắn bó với một trong những dòng laptop siêu mỏng tốc độ cao với các ổ trạng thái rắn nhỏ bé. Các ứng dụng, những bộ phim, bài nhạc và ảnh sẽ dễ dàng làm cho không gian ổ cứng nhanh chóng cạn kiệt. Bài viết sẽ hướng dẫn các bạn một số phương pháp giúp lấy lại không gian ổ đĩa cứng, tránh tình trạng cạn kiệt dung lượng trống.

Xóa file không còn cần đến

Bước đầu tiên là tránh những nguyên nhân làm tăng bộ nhớ thường gặp. Chúng bao gồm các ứng dụng không cần thiết và rất nhiều file hệ thống vô dụng khác.

Thùng rác, các thư mục tạm (Temp Folder) và những file hệ thống ngẫu nhiên có thể chiếm tới hàng Gigabyte bộ nhớ. Chương trình dọn dẹp ổ đĩa tích hợp của Microsoft có tên Windows Disk Cleanup sẽ giúp giải phóng bộ nhớ cho người dùng.

Vào Start menu, gõ disk cleanup trong hộp tìm kiếm và nhấn Enter để khởi chạy chương trình.

Bên cạnh đó, người dùng có thể lên lịch cho Disk Cleanup chạy định kỳ trong Task Scheduler của Windows. Dưới đây là cách làm.

Kích vào nút Start, gõ Task Scheduler trong phần tìm kiếm và nhấn Enter. Ở thực đơn Actions, chọn Create Basic Task. Theo cửa sổ thiết lập để nhập mô tả và cài đặt lịch trình hàng ngày/hàng tuần… sau đó gõ cleanmgr.exe trong hộp Filename để đặt lịch.

Phương pháp này giúp kích hoạt Disk Cleanup theo thời gian thiết lập nhưng vẫn yêu cầu giám sát từ người dùng. Nếu muốn Disk Cleanup chạy nền mà không cần giám sát, bạn có thể tạo một tác vụ hoạch định bằng dòng lệnh:

Vào Start menu, nhập cmd trong phần tìm kiếm và nhấn Enter để mở cửa sổ lệnh.
Gõ cleanmgr.exe /sageset:1 để mở thiết lập Disk Cleanup.
Chọn những loại file muốn xóa và nhấn OK. Việc này nhằm tạo một khóa Registry lưu những thiết lập dọn dẹp và cũng chạy Disk Cleanup ngay bây giờ.
Sau đó, đến Task Scheduler (Start > Task Scheduler > Create Basic Task) và khi đã vào màn hình chương trình Scheduled Task, nhập /sagerun:1 trong các đối số (ngoài tên file là cleanmgr.exe) để áp dụng thiết lập dọn dẹp.
Dưới đây là một số cách khác để dọn dẹp để ổ đĩa.

Xóa các ứng dụng không cần thiết: Ở lúc này hay lúc khác, chúng ta có thể cài đặt những chương trình mà ta nghĩ rằng sẽ dùng đến hay chỉ muốn kiểm thử.Để tránh những ứng dụng không cần thiết này, như các trò chơi hay phần mềm cũ, vào Start menu sau đó chọn Control Panel và kích vào Programs and Features. Chọn chương trình muốn xóa và kích Uninstall.

Ngoài ra, nếu có nhiều trình phát nhạc hay nhiều loại ứng dụng trùng nhau, hãy gỡ bỏ bớt chúng đi.

Sử dụng công cụ dọn dẹp hệ thống chuyên dụng: Đôi khi nỗ lực dọn dẹp thủ công của bạn sẽ không thể xóa được hết toàn bộ file hay ứng dụng thừa. Một ứng dụng được thiết kế chuyên dụng cho hệ thống sẽ làm tốt hơn.

Để dọn dẹp hoàn toàn ổ đĩa, hãy thử sử dụng CCleaner. Ứng dụng miễn phí này sẽ xóa đi lược sử trình duyệt và cache, file tạm, điểm khôi phục hệ thống và nhiều danh mục khác làm tăng dung lượng bộ nhớ sử dụng.

Nhắm tới những file kích thước lớn và trùng lặp

Nếu đã áp dụng các biện pháp trên thì bạn đã đạt được một sự cải thiện lớn cho việc sử dụng không gian ổ cứng. Hãy cùng tiến sâu hơn nữa.

Để tìm xem cái gì đang thực sự chiếm hữu hầu hết không gian ổ cứng, hãy sử dụng chương trình phân tích ổ cứng. WinDirStat là một chương trình miễn phí sẽ quét ổ và hiển thị dưới dạng đồ họa về không gian bộ nhớ mà mỗi file chiếm. Chọn các khối lớn trong WinDirStat để xem những file nào đang chiếm dụng nhiều bộ nhớ nhất và sau đó ta có thể chọn ra những “ứng viên” cần xóa.

Chuyển các thư mục quan trọng đế ổ cứng ngoài

Có thể cách dễ nhất để làm gọn hệ thống là mở rộng bộ nhớ bằng một ổ cứng ngoài. Với một ổ USB giá rẻ hay thậm chí là thẻ nhớ, bạn có thể lưu lại bộ sưu tập ảnh hay video ngoài máy tính và sử dụng ổ nguyên thủy chỉ để chạy hệ điều hành và ứng dụng.

Chi phí cho các ổ cứng ngoài hạ rất nhanh gần đây, do vậy người dùng sẽ dễ dàng có thêm được rất nhiều không gian lưu trữ để chuyển toàn bộ thư mục Documents đến một nơi khác (ổ khác).

Để làm điều này, kích chuột phải vào thư mục My Documents trong Windows Explorer và vào phần thuộc tính thư mục. Sau đó chọn địa chỉ đích trong thẻ Location. Hoặc bạn có thể chuyển chỉ những thư mục được chọn sang ổ cứng ngoài.

Chỉ cần đảm bảo rằng bạn có một hệ thống dự phòng cho các file trên ổ cứng ngoài như với ổ cứng trong. Dự phòng cho những thư mục cục bộ hoặc qua các dịch vụ dự phòng trực tuyến như Crashplan và Backblaze. Đây là những ứng dụng cho phép dự phòng ổ cứng ngoài.


Lưu trên Web

Các dịch vụ lưu trữ đám mây mang đến rất nhiều không gian lưu trữ trực tuyến mà ta có thể dùng để thay thế ổ đĩa cứng truyền thống. SkyDrive của Microsoft cung cấp tới 7 hoặc 25GB dung lượng miễn phí trong khi Box, Google Drive và SugarSync Free cho phép 5GB. Dropbox Basic bắt đầu với 2GB dung lượng miễn phí.

Mặc dù vậy, để thực sự tiết kiệm không gian bộ nhớ thì dịch vụ bạn sử dụng sẽ phải cho phép bạn đăng tải file đơn giản mà không cần đồng bộ như ở Box hay loại trừ một số thư mục không đồng bộ (nhưng bạn vẫn sẽ có những thư mục và file đó được lưu trên máy). SkyDrive và SugarSync dường như không có tính năng đồng bộ chọn lọc, nhưng cả Dropbox và Google Drive đều có.

Để ngừng đồng bộ toàn bộ thư mục với Google Drive, kích chuột phải vào Google Drive Tool sau đó vào Preferences. Tích vào hộp Only sync some folders to this computer.

Với Dropbox, vào Dropbox preferences, sau đó vào thẻ Advanced và nhấn nút Selective Sync.

Đây là một cách tuyệt vời để lưu giữ những thư mục lớn chứa video hay ảnh lên bộ lưu trữ trực tuyến và xóa chúng khỏi ổ cứng máy tính.

Các dịch vụ khác bạn có thể sử dụng để tiết kiệm bộ nhơ như là Amazon Cloud Drive, Picasa hoặc Flickr để lưu ảnh và tất nhiên là YouTube cho video.

Chạy phần mềm bằng trình duyệt

Phần mềm trên nền Web có thể thường xuyên cạnh tranh với phần mềm trên desktop về mặc tính năng, và những chương trình như vậy thường miễn phí. Thay vì cài đặt một bộ office lên máy tính, ta có thể sử dụng Google Docs hoặc những ứng dụng Office Web của Microsoft trong SkyDrive.

Pixlr Editor có thể thay thế cho “kẻ khát máu” Photoshop trong việc chỉnh sửa ảnh, PDFescape thực hiện công việc của Adobe Acrobat…

Vì vậy, đừng thấy phiền lòng khi sở hữu một ổ cứng dung lượng nhỏ. Hãy thử sử dụng những phương pháp trên đây, bạn sẽ thấy ổ cứng của mình “lớn” hơn bạn nghĩ.

 (Theo PCWorld)

Photoshop CS2 - Phan 22 - Bai 13 - Sao lưu action sang máy khác khi sử dụng

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2012

Học Marketing rồi làm việc ở đâu?

Nếu câu trả lời của bạn là "không biết" - có lẽ sẽ giống trường hợp bạn tìm thấy chiếc thuyền và bắt đầu bơi ra biển mà không biết sẽ bơi đến đâu và điều gì đang chờ mình ở bờ bên kia!



Bài viết sẽ giúp bạn hiểu rõ và phân biệt về hai loại công ty bạn có thể làm việc sau khi học marketing!
Đây là bài viết tổng hợp thông tin từ loạt bài tại đây, đâyđây giúp bạn phần nào hiểu rõ hơn về công việc Marketing tại Việt Nam!

1.Học Marketing để làm gì?
Trong lớp học và trong nhiều sách textbook căn bản, chúng ta được nghe đến 4P của marketing: Product, Price, Place & Promotion. Chỉ riêng mỗi “P” cũng đã là một lĩnh vực mênh mông – nên rốt cuộc là mỗi chúng ta, đặc biệt là các bạn sinh viên mới ra trường – có thể đóng góp gì và nên bắt đầu ở đâu? Để trả lời câu hỏi trên thì chúng ta cần phải trả lời một câu hỏi trước đó: “Bạn sẽ làm marketing tại loại công ty nào?”.

Khi nhắc đến marketing, thì với tư cách là một người tiêu dùng – chúng ta thường nghĩ đến những ấn phẩm quảng cáo (nhiều nhất có lẽ là TVC quảng cáo) của các nhãn hàng như Omo, Pepsi, Coca Cola, … Chúng ta xem những đoạn quảng cáo đó từ lúc còn bé tý (và thật sự trẻ em hầu hết đều rất thích xem quảng cáo), xuýt xoa rằng sao đoạn phim chỉ chiếu trong một thời gian ngắn (30s) mà lại có thể truyền tải nhiều ý nghĩa như vậy. Chúng ta lớn lên với mong muốn “mình cũng muốn làm ra 1 mẫu quảng cáo như vậy” và ta nghĩ rằng ta thích marketing.

Lớn lên một chút, nhất là khi vào đại học – ta được biết Omo, Pepsi, Coca, Kinh Đô … chỉ là những nhãn hàng (brand) của một tập đoàn – và một tập đoàn có rất nhiều nhãn hàng. Ta ồ lên thích thú khi biết rằng Omo, Viso, Surf, Dove, Pond’s, Vaseline … đều là của Unilever, và Pepsi, Sting, 7-up, Twister … cùng thuộc về Pepsi Co.

Ta đọc sách marketing, và thấy rằng ngoài những mẫu TVC, những mẫu Print-Ads thì còn có những chiến lược về thương hiệu, sản phẩm, phân phối và giá cả. Ta say mê những quyển sách như “22 quy luật bất biến của marketing” (Al Ries & Jack TRout), “Khác biệt hay là chết” (Jack TRout), “Quảng cáo thoái vị, PR lên ngôi” (Al Ries & Laura Ries). Ta thấy thế giới marketing thật rộng và thật đẹp Và ta tự nhủ rằng Unilever, Pepsi là những điểm đến lý tưởng, và ta sẽ được làm những mẫu quảng cáo tuyệt vời mà ta đã và đang xem trên TV.

2. Client và Agency, bạn sẽ làm ở đâu?
Nhưng sắp tốt nghiệp đại học, ta lại nghe về một phân ngành khác của marketing gọi là “agency” – hay còn gọi là những công ty “cung cấp dịch vụ tiếp thị và quảng cáo”, và chính những công ty này mới là người trực tiếp làm ra những đoạn TVC, những mẫu Print-Ads (quảng cáo báo) mà chúng ta từng xuýt xoa, còn các tập đoàn như Unilever, Pepsi chỉ làm những khâu “đầu-cuối”: đưa  ra yêu cầu và lựa chọn giải pháp từ agency.

Và khi thử ứng tuyển vào những công ty agency này, thì họ lại không yêu cầu nhiều về những tư tưởng/chiến lược mà ta hằng ấp ủ - thay vào đó lại hỏi về những kỹ năng rất …tỉ mỉ: tiếng Anh, kỹ năng sáng tạo, kỹ năng thuyết trình, định hướng nghề nghiệp … Cảm giác như họ chẳng hề trân trọng chút kiến thức marketing nào chúng ta đã được dạy và tự học trong suốt khoảng thời gian đại học?

Vậy là sao?
Thật ra điều này rất bình thường, vì trong ngành marketing (marketing industry) có nhiều loại công ty và nhiều phân ngành nhỏ. Và mỗi loại công ty – mỗi phân ngành lại yêu cầu/đề cao những giá trị khác nhau của một nhân sự.

Hãy bắt đầu bằng khái niệm thân quen nhất: “4P”. Để thật sự làm việc có liên quan hết đến 4P – Sản phẩm – Giá Thành – Bày bán – Chiêu Thị, thì bạn cần làm việc tại những tập đoàn như Unilever, Pepsi, … Đây là những công ty sản xuất (manufacturing companies) – họ sáng tạo, sản xuất và chiêu thị để bán được sản phẩm cho người tiêu dùng (consumers). Và trong ngành marketing, họ được gọi là “client” hay “advertiser” – khách hàng, hay người chi tiền quảng cáo.

Vậy nếu những công ty như Unilever là “khách hàng” thì ai sẽ phục vụ họ?

Đó là những công ty “agency” – những công ty dịch vụ tiếp thị. Nếu các bạn có tìm hiểu sâu, chúng ta sẽ nghe về những cái tên Ogilvy & Mather (O&M), Saatchi & Saatchi, Dentsu, Leo Burnett …

Đó đều là những công ty thuộc về phân ngành “công ty quảng cáo” – “advertising agency”. Và nếu các công ty “client” chịu trách nhiệm trên 4P của một sản phẩm, thì hầu như các công ty agency đều chỉ làm việc trên “P” cuối cùng: Advertising & Promotion – Quảng cáo truyền thông.

Nói ngắn gọn, “agency” là những công ty dịch vụ cung cấp các sản phẩm sáng tạo và truyền thông.

3. Cơ hội nghề nghiệp với marketing Agency
Về phân ngành agency thì thật sự là một thế giới rất mênh mông, trong đó tạm chia thành 4 phân ngành nhỏ hơn:


1. Công ty quảng cáo - Advertising agency: là những công ty cung cấp dịch vụ tư vấn dựa trên chuyên môn cao (expertise) về thương hiệu (brand), truyền thông (communication) , sáng tạo (creativity) và thực thi (execution).Các công ty nổi tiếng trong ngành như Ogilvy & Mather (Mỹ), JW Thomson (Mỹ), Saatchi & Saatchi (Anh), Dentsu (Nhật), Cowan (Úc) …


Nếu bạn có hứng thú phát triển nghề nghiệp trong ngành Marketing Communication? Donald Dung nhắn riêng với các bạn : bạn có thể tìm hiểu và trải nghiệm ngay với buổi học thử MIỄN PHÍ của khóa học Account Management tại đây.


2. Công ty truyền thông -  Media agency: là những công ty sử dụng sự thấu hiểu về người tiêu dùng và các công cụ truyền thông để truyền tải những sản phẩm sáng tạo (từ client và advertising agency – ví dụ như TVC, Print-Ads) đến với người tiêu dùng tiềm năng.

4 tập đoàn truyền thông lớn nhất tại Việt Nam:
  • GroupM (bao gồm 4 công ty bắt đầu bằng chữ M: Mindshare, Mediacom, Maxxus, MEC), 
  • Publicis (bao gồm 5 công ty Starcom, Zenith, Opti, Equinox và Performics), 
  • Dentsu Asia Network (bao gồm 3 công ty Dentsu Vn, Dentsu Alpha và Dentsu Media) 
  • Đất Việt Group – VAC (bao gồm các công ty như Đất Việt Media, TKL Media, Đông Tây Promotions …)
Bên dưới là thông tin tóm tắt  về các tập đoàn quảng cáo lớn nhất thế giới.


Bạn có thể xem chi tiết về lịch sử các công ty này, cũng như các công ty mà họ đã thâu tóm tại đây. 

3.  Công ty nghiên cứu thị trường – market research agency: khác với 2 loại agency trên, thì agency về nghiên cứu thị trường tham gia rất sâu vào cả quá trình xuyên suốt của 4P từ thử nghiệm ý tưởng sản phẩm (product test) đến đo lường hiệu quả truyền thông…Các công ty nổi tiếng trong mảng này như AC Nielsen – nay là Nielsen, Taylor Nielsen – hay còn gọi là TNS, nay là Kantar Media, FTA (agency Việt Nam), Epinion (agency Đan Mạch) …

4.  Các dịch vụ hỗ trợ: là những công ty cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho ngành như quay phim, chụp hình, lồng tiếng …

4. Làm việc tại client và agency khác nhau thế nào
Trong khi 90% các bạn sinh viên thích và học ngành marketing khi ra trường đều mặc định là mình muốn làm việc tại client, thì rất ít bạn biết hay chịu khó tìm hiểu về môi trường agency. Liệu tố chất của bạn phù hợp với client hay agency – hãy cùng xem mô tả công việc, lợi ích và áp lực của từng phân ngành nhé.

A – Các công ty khách hàng (client)
Như đã nhắc đến – làm tại các công ty khách hàng (client) có nghĩa là “làm nhiều việc cho một người”. Nếu bạn làm trong Brand team của Omo chẳng hạn, thì bạn sẽ tham gia vào tất cả các quy trình (trừ sản xuất) của sản phẩm từ giai đoạn đầu đến lúc đến tay người tiêu dùng: test sản phẩm, test concept truyền thông, lên kế hoạch communication & trade cả năm, brief cho agency, thực hiện cùng agency, đo lường  - quản lý và tối ưu hóa các chiến dịch truyền thông và bán hàng.




Marketer làm việc tại client là phải "nhiều việc cho một người"
1. Với một môi trường làm việc đa dạng (tiếp xúc với nhiều loại đối tác: nghiên cứu thị trường, quảng cáo (agency), truyền thông (media) đến cả những nhà bán lẻ (Retailer: Co-op Mart, Big C, Metro …) thì bạn sẽ học được rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm 

2. Từ những kiến thức và kinh nghiệm đó – kết hợp với những tài liệu nội bộ công ty  - thì bạn sẽ có một sự hiểu biết sâu sắc về sản phẩm và ngành hàng của sản phẩm đó.

Ví dụ, nếu bạn làm tại brand Omo (bột giặt), thì bạn sẽ hiểu biết về rõ về tính năng của sản phẩm Omo, Omo khác biệt các sản phẩm bột giặt cùng công ty (Surf, Viso) và khác biệt với các sản phẩm đối thủ (Tide) như thế nào – hiểu những xu hướng và phân khúc của thị trường giặt tẩy và các đối thủ khác phân ngành. Ví dụ khi P&G ra mắt nước giặt Ariel thì đó cũng được xem là một đối thủ cạnh tranh không trực tiếp với bột giặt Omo (cùng là giải pháp giặt tẩy).

3. Trên những cơ sở hiểu biết về sản phẩm, ứng dụng vào thị trường, hiểu điểm mạnh điểm yếu cũng như các xu hướng của người tiêu dùng, bạn sẽ dần hình thành một cảm quan (sense) về sản phẩm của mình và thị trường.

Đó là lý do tại sao những người làm Brand Manager cần khoảng 5-8 năm kinh nghiệm, để hình thành một cảm quan nhạy bén và đúng đắn, để đưa ra lựa chọn cuối cùng trên những đề xuất của các công ty dịch vụ (agency).

Đi kèm với những lợi ích đó cũng là áp lực. Khi bạn làm ở client, làm ở brand thì bạn phải là người chịu mục tiêu: mục tiêu về doanh số (sales), sức mạnh thương hiệu (brand health) hay thị phần (market share). Bạn là cha mẹ ruột của thương hiệu đó, của đứa con tinh thần – và bạn phải chăm sóc nó mỗi ngày. Khi đó bạn sẽ không bao giờ có thể ngừng suy nghĩ về doanh số, về số lượng (unit) bán ra mỗi giờ, mỗi ngày. Vì vậy, công việc về bên phía khách hàng (client) không mang nhiều tính sáng tạo như các bạn trẻ hay hình dung, mà phần nhiều về quản lý và giao tiếp kết nối (giữa nhiều đơn vị). Làm tại brand có nghĩa là bạn tự hào với trách nhiệm của mình, bạn yêu brand và business của bạn – và cố gắng cải thiện qua từng tháng ngày.

Một ghi chú nhỏ cuối cùng: trong khi hầu hết mọi người hình dung là áp lực khi làm tại client, nhất là làm tại brand đến từ môi trường bên ngoài (đối thủ cạnh tranh, chính sách …) thì có nhiều người chia sẻ áp lực lớn nhất lại đến từ chính môi trường bên trong client: cụ thể là áp lực đến từ bộ phận Bán hàng (Sales).

Bạn hãy hình dung thế này:
  • Anh A là Sales Manager – ngành hàng Bột Giặt của Unilever, anh A chịu mục tiêu doanh số cho toàn ngành bột giặt (vd 500 triệu Euro năm 2012), và nắm trong tay một nguồn lực có hạn (500,000 điểm bán và 1 triệu USD ngân sách trade marketing).
  • Unilever về bột giặt có 3 nhãn hàng:
    • Omo (Brand Manager là anh B)
    • Viso (Brand Manager là anh C)
    • Surf (Brand Manager là anh D).
  • Và anh A sẽ là người quyết định tập trung vào sản phẩm nào nhiều nhất để đạt được doanh số sales.

    Có nghĩa là nếu bạn là một trong 3 brand manager trên, thì việc đầu tiên và cần thiết nhất của bạn là thuyết phục được bên Sales tin tưởng vào sự thành công của chiến dịch bạn đưa ra và dành nguồn lực cho bạn (số bảng biển tại cửa hàng, ngân sách hỗ trợ bán lẻ …). Thuật ngữ trong ngành thường gọi là “win được support của sales”. Vì vậy, đối với các Brand Manager thì buổi thuyết trình chiến dịch hàng quý cho sales (gọi là Sales Pitch) là cực kỳ quan trọng, vì nếu Sales không support bạn thì không cách nào bạn đạt được mục tiêu về doanh số. Và tất nhiên, bản thân bộ phận Sales cũng có những “kiêu hãnh và định kiến” của họ - hãy hình dung: chỉ cần Omo (vốn chiếm 70% thị trường) tăng 5% doanh thu thì đã đủ target, trong khi nếu Viso thì sẽ phải tăng 50% doanh thu (vốn là khó hơn rất nhiều).

    Nên phần thiệt thòi và cần nỗ lực nhiều hơn là những bạn làm tại những brand nhỏ. Ví dụ tại Unilever thì ngành hàng giặt tẩy (laundry) và chăm sóc tóc (haircare) là được ưu ái nhất, mà cụ thể là 2 “con bò vắt sữa” (cash cow) là Omo và Clear. Còn ngành hàng Lăn khử mùi (deodorant) bao gồm Dove, Pond’s, Rexona, AXE …thì với đóng góp chưa đến 5% doanh thu, sẽ cần phải cố gắng rất nhiều.

    Làm tại Unilever cũng rất tuyệt, nhưng cũng nên lưu ý là làm tại brand nào của Unilever nữa 
B – Agency
Đối với công ty agency, thì sự chuyên chính và tập trung (focus) là điều được trân trọng: khi bạn làm tại agency tức là bạn làm “một việc cho nhiều người”. Việc đó có thể là tư vấn thương hiệu, sáng tạo quảng cáo, tổ chức sự kiện hay tiếp thị kỹ thuật số … việc gì cũng được miễn là việc đó có giá trị với khách hàng và tiêu chuẩn các dịch vụ của bạn thật sự cao.

Với agency thì câu “một nghề cho chín còn hơn chín nghề” áp dụng rất chính xác.
Người làm ở agency sẽ rất chuyên chính vào nghiệp vụ (expertise) của mình – và khách hàng cũng trân trọng sự chuyên chính đó. Vì chỉ riêng trong một chuyên môn thì bạn đã có rất nhiều thứ để làm: làm tốt nhất những điều mình đang có, luôn phải cập nhật những thông tin và xu hướng mới nhất của thị trường và người tiêu dùng, trau dồi kiến thức và ý tưởng...

Có những tập đoàn/công ty quảng cáo rất nổi tiếng – và họ chỉ làm một hay một số việc: ví dụ Leo Burnett chỉ tập trung làm về thương hiệu & quảng cáo sáng tạo (brand, branding & advertising) – Cowan chỉ tập trung vào thiết kế bao bì (packaging design) … 



Hầu như khái niệm “full-services agency” (công ty cung cấp đầy đủ dịch vụ) là rất khó tồn tại – trừ những nhóm công ty “cùng họ” như:
  • Ogilvy & Mather: có O&M là về advertising, Ogilvy PR (đã sáp nhập với T&A thành T&A Ogilvy) là về PR & Event, Ogilvy Action về Activation, Ogilvy One (đã mua lại Who Digital)
  • JWT, Bates 141, Y&R, Wunderman, TNS, Kantar Media, GroupM (Mindshare, Maxxus, MEC, Mediacom) ...đều là những công ty thuộc tập đoàn quảng cáo WPP (tập đoàn này có hơn 400 công ty quảng cáo và chiếm 65% thị phần quảng cáo trên toàn thế giới). Chỉ có "tập đoàn full services" chứ không thể có "agency full services"
Điểm được nhiều người yêu thích nhất khi làm tại agency là nét tươi mới trong công việc mỗi ngày. Việc được tiếp xúc với nhiều sản phẩm, ngành hàng, vấn đề & mục tiêu … luôn giữ cho đầu óc thật “mở”. Một câu khá đúng với ngành agency:
“Đầu óc cũng giống như chiếc dù – nó hoạt động tốt nhất khi nó rộng mở”
“Minds are just like parachutes – it works best when it opens”

Thật sự công việc trong ngành agency tươi mới đến mức đôi khi “không thể đoán trước được” (unpredictable). Bạn bước vào công ty và sếp nói: “em ơi, vào họp – có brief mới”, và bạn có thể mỉm cười tự hỏi trong đầu “lần này sẽ là cái quái gì nhỉ?” – có thể là một hãng bảo hiểm trang nghiêm, một nhãn mỹ phẩm kiêu sa, một nhãn sữa thân thiện hay …băng vệ sinh/bao cao su cũng chẳng biết được.



Trong ngành agency, sự bận rộn là điều không thể tránh nhưng cần hạn chế. Nghĩa là sao nhỉ?
“Không thể tránh” là vì sẽ có những lúc tất cả khách hàng của bạn cùng làm truyền thông (ví dụ vào dịp Tết chẳng hạn) – thế là bạn sẽ vắt chân lên cổ để chạy.

 “Cần hạn chế” có nghĩa là sau những lúc như vậy, bạn cần phải tỉnh táo để “về thành dưỡng sức” cũng như trau dồi thêm vốn sống & kiến thức. Nói ngắn gọn, nếu người nào làm trong agency “có làm mà không chơi” thì sẽ rất sớm bị kiệt quệ, cả về thể lực – tinh thần lẫn vốn sống. Như một anh bạn làm Creative Director từng chia sẻ:
“Làm sáng tạo dễ lắm. Sống sáng tạo mới khó”
– làm quảng cáo là sống với nghề, là mang cái “tôi” của mình ra để thẩm thấu cái “ta” của người tiêu dùng và khách hàng.

Một điểm khác khiến công việc tại agency càng hấp dẫn hơn là sự “thư thái đầu óc” (free of mind). Vì người làm tại agency là người đang bán những sản phẩm truyền thông (communication product) chứ không phải sản phẩm hữu hình, và việc bán hàng này diễn ra khá đơn giản – khi khách hàng (client) là người trực tiếp ra quyết định. Và đo lường chất lượng của sản phẩm đó là những con số về mức độ nhận biết, độ yêu thích, … những chỉ số có phần “cảm tính” chứ không phải lời/lỗ - doanh số cụ thể của sản phẩm hữu hình. Người làm tại agency đã, đang và sẽ “đưa ra những lời đề nghị” (make recommendation) và không được/phải chịu trách nhiệm về quyết định cuối cùng (vì đó là quyết định của công ty khách hàng).

Một chiến dịch truyền thông không tốt -> doanh số không tăng (hay tệ hơn là giảm) – khách hàng không hài lòng và agency đó có thể mất khách hàng đó. Một chiến dịch truyền thông tuyệt vời, nhận thức cao chót vót, khác biệt của sản phẩm nêu rạch ròi và mạch lạc, doanh số bán hàng tăng ầm ầm thì agency nhận lại là những lời khen của khách hàng, và (không chắc chắn) được làm những dự án tiếp theo. Chính vì sự “giữa chừng” đó (xin đừng gọi là “nửa vời” – vì agency trách nhiệm chính là tư vấn, cũng chỉ là “người đưa đò”) nên những vinh dự hay phần thưởng lớn nhất sẽ không dành cho agency.

Và thật sự với một chiến dịch truyền thông trị giá hàng tỷ đồng (40,000 USD – khoảng hơn 800 triệu, là mức giá làm TVC của các tập đoàn quảng cáo hàng đầu tại Việt Nam) thì doanh nghiệp khách hàng có thể nhận lại những lợi ích vượt trội hơn rất nhiều (số lượng bán hàng và lợi nhuận tăng lên nhiều) còn agency thì chỉ là chi phí dịch vụ và những showcase trong hồ sơ năng lực (credentials).

Nên, nếu nhìn lại thì giá trị lớn nhất của agency chính là thương hiệu của agency đó. Những tập đoàn quảng cáo hàng đầu đều có những giá trị, tiêu chuẩn và triết lý của mình.

Thậm chí, những người sáng lập huyền thoại như David Ogilvy hay Leo Burnett còn để lại những tài liệu về việc “when to take my name off the door” – “khi nào thì nên gỡ bỏ tên tôi khỏi công ty quảng cáo này”: đó là khi công ty chỉ chạy theo lợi nhuận, mà xa rời những giá trị hay tiêu chuẩn của chính mình. Chính vì vậy, David Ogilvy – người được mệnh danh là “ông tổ của ngành quảng cáo” đã để lại những lời răn rất đáng nghiền ngẫm:



“Người tiêu dùng không phải lũ mọi rợ. Họ chính là vợ bạn”
“Đừng bao giờ làm quảng cáo cho một sản phẩm mà bạn không muốn gia đình bạn sử dụng”
“Sử dụng sản phẩm của khách hàng không phải là sự xu nịnh, mà là phép lịch sự tối thiểu”
Và thương hiệu của các agency – tất cả đều được xây bởi con người.

Vì vậy, những người đứng đầu mỗi agency – Managing Director, Account Director, Creative Director, Director of Strategic Planning – phải hiểu rất rõ những giá trị và tiêu chuẩn của agency mình đang đại diện. Làm agency, làm marketing communication là một con đường học hỏi và tìm tòi vô tận – nơi đó giới hạn của bản thân mình là do chính mình đặt ra.

Người làm marketing nói chung, hay agency nói riêng, phải luôn “đói khát và vụng dại” (như lời của thiên tài Steve Jobs) – “đói khát” để luôn học, luôn hỏi, luôn làm mới chính mình – “vụng dại” để luôn tò mò, luôn mở rộng đầu óc và tấm lòng.

Hy vọng bạn đã hiểu rõ hơn về công việc marketing và tin vào lựa chọn của chính bạn!
Chúc bạn một sự nghiệp thành công ở ngay phía trước!

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2012

Những cách Tăng fan cho Facebook

Làm sao để thực hiện Facebook Marketing cho hiệu quả? Fan, số lượng comment, số lượng comment có tên thương hiệu hay chỉ số People Talking About là một số yếu tố để đo lường hiệu quả.

Chúng ta hãy cùng xem một số thông tin tại các fanpage Việt Nam!


Thời gian tăng fan đột biến của AXE Vietnam


Trong khi chỉ số "people talking about" trong cùng thời gian lại có xu hướng giảm
Kinh Đô : bạn có thể tự quan sát và rút ra kết luận cho riêng mình!



Và một thời gian sau, đồ thị về số lượng Fan đang theo chiều ngược lại


Một số cách phổ biến để tăng fan: 
  1. Mang lại nhiều nội dung hấp dẫn để thu hút fan. Điều này thật sự không dễ dàng, ngay cả với những khách hàng có lượng nội dung tốt. Một khách hàng mà tôi từng làm việc cùng là một hãng hàng không lớn, có tạp chí được xuất bản hàng tháng với nhiều nội dung hấp dẫn nhưng lại không thể cung cấp cho chúng tôi. Lý do đơn giản là ban biên tập cũng chỉ làm cuốn chiếu, chứ không thể làm khung nội dung cho 1 năm. Đi theo xu hướng tạo ra nội dung mới, hấp dẫn  là những fanpage: Những câu nói bất hủ, Tạp chí chim lợn..

    Đích nhắm của cách làm này là thường Word of Mouth.



    Mặt trái của cách làm này là câu khách bằng mọi giá.

    Công thức "lấy gái câu view" được các fanpage 
    tại đây áp dụng là một ví dụ.
  2. Mua fan: cách này không mới nhưng chất lượng fan thì rất thấp. Khi áp dụng cho trường hợp này số lượng fan chỉ để cho đẹp report nhiều hơn là vì thương hiệu.

    Chào mời về mua bán Fan được gửi trực tiếp đến Fanpage mà tôi quản lý!
    Nếu bạn vào một fanpage với hơn 10k fan người nhưng số lượng tương tác trên mỗi post cũng chỉ lèo tèo hơn chục khuôn mặt quen thuộc thì nhiều khả năng trong đó có hơn nửa là "người nhà".

     Đó chính là tác phẩm kinh điển từ việc mua fan và không kiểm soát được chất lượng công việc.
  3. Sử dụng ứng dụng (application) để tăng fan cho fanpage
    Khi bạn chấp nhận cho ứng dụng truy cập vào account của bạn, một số ứng dụng sẽ dùng quyền này để like bất cứ fanpage nào application được lập trình. Cách này cũng được nhiều đơn vị mua bán fan áp dụng khi doanh nghiệp có nhu cầu tăng fan.
  4. Dùng Facebook Ad để tăng fan
    Tùy vào cách bạn dùng, FB Ad có thể rẻ hơn chi phí để bạn mua fan từ nhà cung cấp. Chất lượng fan từ đây cũng tốt hơn so với cách 2-3, do người dùng chủ động "thích" chứ không phải bị cưỡng ép hoặc "like mà không biết tại sao like".

    Sử dụng hiệu quả hay không phụ thuộc vào thương hiệu, thông điệp quảng cáo, hình ảnh đính kèm cũng như promotion có hấp dẫn không.

    Bản thân tôi từng trải nghiệm chạy quảng cáo cho cùng một thương hiệu về thực phẩm: có promotion (giảm giá 30%) và không có promotion kết quả khác nhau một trời một vực.
Thông thường để tăng fan sẽ kết hợp nhiều cách, bao gồm việc tạo ra các cuộc thi, chương trình khuyến mãi để hấp dẫn người dùng.

Ở vai trò là người quản trị thương hiệu, bạn nên dùng Socialbakers sẽ giúp bạn theo dõi lượng fan có tăng đột biến hay không trong suốt thời gian thực hiện chiến dịch, giúp bạn có cái nhìn rõ nét hơn về những gì đang xảy ra.


Thứ Năm, 7 tháng 6, 2012

Brand Health Diagnosis: Đo lường Sức mạnh thương hiệu

Brand Health check - brand health diagnosis
Các chỉ số căn bản của  brand health check - brand health diagnosis
Làm thế nào để biết thương hiệu của bạn đang khỏe mạnh hay đang gặp vấn đề, có bao nhiêu cấp độ về sức mạnh thương hiệu là những câu hỏi cần đặt ra cho công việc marketing hay branding. 

Nhưng ngay cả khi bạn có một báo cáo brand health diagnosis từ công ty nghiên cứu thị truờng (như hình trên), bạn có hiểu các chỉ số này nói lên điều gì không?

Chúng ta cùng tìm hiểu các chỉ số căn bản nhất để đo lường (brand health check - brand health diagnosis) sức khỏe thương hiệu của bạn!
Chúng ta hãy cùng xem các chỉ số của thương hiệu A (brand A) để làm ví dụ. Thương hiệu này có một số chỉ số căn bản như sau

Lưu ý: tất cả các con số ở đây đều là phần trăm (%).
  1. Total Brand Awareness : chỉ số nhận biết thương hiệu. Chỉ số này gồm có 3 cấp độ về nhận biết
    • T.O.M (Top of mind) - ở A là 12% : đây là chỉ số cực kỳ quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc bán sản phẩm. Chỉ số này có nghĩa là trong một ngành hàng, thương hiệu này là thương hiệu khách hàng nghĩ đến đầu tiên.

      Ví dụ bạn nghĩ đến nước giải khát, bạn biết thương hiệu nào? Nếu câu trả lời của bạn là Coca Cola thì T.O.M về nước giải khát của bạn là Coca Cola.
    • Other Spontaneous - của A được tính bằng 45-12=33  : là thương hiệu đã có sẵn trong tâm trí của khách hàng nhưng không phải là T.O.M. Với ví dụ trên, sau khi bạn trả lời nước giải khát là Coke, nếu tôi hỏi tiếp vậy thì ngòai Coke, bạn còn biết thương hiệu nào khác không?

      Nếu bạn kể là Pepsi, Dr Thanh.. thì  đây là chỉ số Other Spontaneous cho thương hiệu. Mặc dù không phải là thương hiệu  người dùng nghĩ đến đầu tiên (T.O.M), chỉ số này ảnh hưởng lớn tới việc bán hàng.

      Hãy tưởng tượng bạn vào cửa hàng giải khát và hỏi Coke nhưng ở đó không bán, bạn sẽ chọn đến các thương hiệu ngay bên dưới danh sách như Pepsi chẳng hạn.
    • Aided của A được tính là 74-45=29 : đây là chỉ số mà thương hiệu phải có sự trợ giúp thì khách hàng mới nhớ ra.

      Ví dụ sau khi bạn kể hết tất cả các thương hiệu bạn biết, tôi mới hỏi bạn là: bạn có biết Big Cola, SpCola, Tribeco.. thì có thể là bạn nhớ ra mình đã biết một trong số đó.

      Khi bạn đi shoping, ngay cả khi sản phẩm không thuộc 2 chỉ số đầu tiên nhưng nhờ sự trợ giúp của product display, bao bì cũng nhắc bạn nhớ đến thương hiệu và tác động đến quyết định mua hàng của bạn.

      Điều này sẽ đặc biệt hiệu quả nếu trong tất cả các mặt hàng tại siêu thi của một ngành đó, ví dụ như mặt hàng hơi đặc biệt mà bạn không biết nhiều như Kim Từ Điển, nhiều khả năng bạn sẽ mua sản phẩm mà bạn đã từng biết thay vì mua sản phẩm của các thương hiệu bạn chưa nghe, chưa nhìn thấy bao giờ.
  2. Trail : số phần trăm khách hàng mục tiêu của ngành hàng đã dùng thử, trải nghiệm sản phẩm. Ở chỉ số này sẽ tùy thuộc vào ngành hàng. Với người dùng FMCG  như dầu gội, sữa tắm.. thì người dùng đã từng xử dụng một lần, với địa ốc có thể là xem căn hộ mẫu, với hotel có thể là nghe người khác kể lại, vào website xem thêm thông tin về dịch vụ chứ không chỉ là có nghĩa hẹp là "đã từng xài qua".
  3. Share of Usage: chỉ số này sẽ tương đương với một chỉ số khác là thị phần (market share). Bạn chiếm bao nhiêu thị phần trong ngành hàng. Để đo chỉ số này cũng phụ thuộc vào từng ngành. Với ngành FMCG sẽ có 3 cách đo, mỗi cách đo sẽ có sai số nhất định
    • Từ nhà sản xuất: xem mỗi công ty sản phẩm và bán bao nhiêu sản phẩm ra thị trường
    • Từ nhà bán lẻ (không tính siêu thị): sẽ chọn mẫu là các nhà bán lẻ như cửa hàng, chợ và đo lường mỗi sản phẩm chiếm bao nhiêu phần trăm số lượng bán ra trong cùng khỏang thời gian
    • Từ người tiêu dùng: từ số mẫu là người tiêu dùng thật
  4. Coverage (weighted) : độ phủ sản phẩm trên thị trường. Ví dụ cùng có 100 cửa hàng bán lẻ về sửa rửa mặt, thương hiệu A được bán tại 40/100 cửa hàng này thì độ phủ của Brand A là 40%.
  5. Conversion Rate: chỉ số này được tính bằng số lượng Share of Usage chia cho số Trial, có thể hiểu là chỉ số thể hiện số phần trăm khách hàng sau khi dùng thử trở thành khách hàng thường xuyên. Ở A sẽ là 14/26.

    Khi làm marketing, đây là một trong những chỉ số quan trọng để biết sản phẩm của bạn có đủ tốt so với các sản phẩm trong cùng ngành hàng.

    Với thương hiệu A, chỉ số CR là 54% là nhiều hay ít?
    Câu trả lời là "tùy". Vì với một số ngành hàng thì con số này là cao chót vót nhưng với một số ngành hàng thì con số này chưa là gì.  Để biết cao hay thấp thường sẽ có 2 cách

    a. So với con số chuẩn của cả ngành hàng
    b. So với thương hiệu dẫn đầu thị trường (leader / best practice):  Ví dụ ngành giải khát sẽ so với Tân Hiệp Phát, máy nghe nhạc sẽ so với Apple.

    Trong trường hợp thương hiệu A, chỉ số này là cao vì so với thương hiệu B dẫn đầu thị trường chỉ là 56%, nghĩa là về mặt chất lượng thương hiệu A tốt so với các sản phẩm cùng lọai.
Khi bạn có đọc hiểu những chỉ số này, sẽ rất thuận lợi để bạn biết nên làm gì chính xác chứ không phải thực hiện một cách mò mẫm và cảm tính.

Nghiên cứu thị trường tại Việt Nam


Tại thời điểm hiện tại, chi phí thuê một công ty nghiên cứu thị trường (NCTT) đo lường và khám sức khỏe cho thương hiệu sẽ ở mức khỏang 10.000 USD. Đây là một con số không nhỏ, nhất là với các doanh nghiệp SMEs, nhưng đây là cách để bạn thực sự biết bạn đang ở đâu và làm sao để thương hiệu của bạn khỏe mạnh hơn. Một trong số các công ty nghiên cứ thị trường bạn có thể liên hệ là FTA Research & Consultant.

Vào năm 2005, theo Công ty nghiên cứu thị trường TNS - VN cho thấy mức chi phí nghiên cứu thị trường của các doanh nghiệp VN rất thấp; tổng chi nghiên cứu thị trường của VN tính trên đầu người chỉ đạt 0,12 USD; đây là mức thấp nhất trong 60 quốc gia được điều tra.

Đến 2008, doanh thu tổng ngành nghiên cứu thị trường của Việt Nam chỉ khoảng 25 triệu USD, tức chi tiêu nghiên cứu thị trường trung bình trên đầu người tại Việt Nam chỉ đạt 0.29 $ vào năm 2008, thuộc hàng thấp nhất trên thế giới.

Với mức chi cho nghiên cứu thị trường trên đầu người hiện nay còn ít hơn chi tiêu cho một bữa ăn sáng, các doanh nghiệp thể hiện nhận thức còn hạn chế, chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của công cụ này trong hoạt động Marketing của mình.

Theo các chuyên gia đây là một thực trạng đáng cảnh báo, từ trước tới nay, các doanh nghiệp VN đã thành công nhờ các yếu tố giá nhân công rẻ, sự hỗ trợ của chính phủ, thị trường còn chưa mở cửa hết... nhưng đến nay những lợi thế này đang mất dần,  mức độ cạnh tranh trên thị trường tăng lên do phải mở cửa thị trường theo lộ trình cam kết gia nhập WTO. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải tạo sức cạnh tranh mới thông xây dựng và quảng bá thương hiệu.

Các chuyên gia đến từ Công ty TNS cũng cảnh báo rằng, trước khi chi tiêu hoang phí cho quảng cáo, các doanh nghiệp cần hiểu rõ hơn thị trường trong nước và quốc tế. Điều này sẽ giúp cho sản phẩm, thương hiệu và dịch vụ có được hiệu quả tốt trong việc gia nhập và chiếm lĩnh thị trường.

Dùng nghiên cứu thị trường trong thiết kế logo

Richard Moore kể một câu chuyện liên quan đến cách dùng kết quả nghiên cứu thị trường để thiết kế logo cho nhãn hiệu CAO Fine Jewellery

"Khi xây dựng bản sắc nhận diện thương hiệu cho CAO, nhãn hiệu trang sức cao cấp của PNJ, chúng tôi đã tiến hành thảo luận nhóm. Nhiều người cho rằng cái tên này nghe có phần “cứng”. Tuy nhiên, CAO là một cái tên ngắn gọn mà giàu ý nghĩa. Nhận thức được vấn đề trong cảm nhận của khách hàng, chúng tôi đã khéo léo thiết kế một mẫu logo mềm mại, tinh tế và không hề “cứng” một chút nào."

Cao Fine được biết đến như nhà chế tác nữ trang cao cấp hàng đầu, đột phá trong thiết kế,  áp dụng kỹ thuật công nghệ cao và tay nghề chế tác tinh xảo. CAO fine không ngừng vươn lên hoàn thiện và giới thiệu những sản phẩm mang tính độc đáo, nhưng bộ sưu tập định vị cao cấp và sang trọng ra thị trường Việt Nam. 




Những doanh nghiệp tham vọng xây dựng một thương hiệu thành công đều phải bắt đầu từ việc nghiên cứu. Khi bắt tay xây dựng một hình ảnh thương hiệu phải bắt đầu từ chính thương hiệu ấy. Nghiên cứu không chỉ để tìm hiểu những kế hoạch, mục tiêu công ty đặt ra, mà còn phải nắm được những khát khao, tham vọng của thương hiệu ấy. 


Chúng tôi thường tiến hành phỏng vấn chuyên sâu và một số phương pháp khác như thảo luận nhóm để tìm hiểu về khách hàng. (các phương pháp nghiên cứu định tính này có thuật ngữ là depth interviews và focus group interview - ghi chú của ChamXanh)


Một nghiên cứu được tiến hành đúng cách sẽ cho biết suy nghĩ của khách hàng về những sản phẩm đang có, và quan trọng hơn, thứ mà khách hàng muốn có. Sự chênh lệch giữa hai yếu tố này sẽ đặt ra cả cơ hội và thách thức vì  tìm ra chênh lệch không có nghĩa là thương hiệu phải làm theo tất cả những gì mà người tiêu dùng muốn.

Vì sao doanh nghiệp Việt Nam chưa nghiên cứu thị trường
Nếu biết trước được thị trường cần gì, người tiêu dùng mong muốn gì,…thì các doanh nghiệp sẽ cung cấp cho thị trường và người tiêu dùng thứ mà họ cần - đây là yếu tố then chốt làm nên thành công trong kinh doanh của bất cứ doanh nghiệp nào.

Các doanh nghiệp Việt nam biết rất rõ điều đó nhưng khi thực hiện thì lại gặp phải những vấn đề còn “hóc búa” hơn cả khi làm quảng cáo:
  1. Thị trường luôn biến động (đôi khi chóng mặt) nên việc nắm bắt nhu cầu thị trường lại càng khó khăn và nan giải hơn.
  2. Nhân lực đảm nhiệm công việc này tại các doanh nghiệp thường mỏng và thiếu kinh nghiệm.
  3. Chi phí cho một đợt khảo sát thị trường có chất lượng tốt cũng không phải là nhỏ, khiến các doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng.
  4. Hệ thống dịch vụ chuyên nghiệp để phục vụ cho công tác nghiên cứu thị trường tại Việt nam còn ít, các công cụ và phương pháp tiếp thị còn mang tính truyền thống, chưa đột phá và tiện ích.
  5. Cộng đồng người tiêu dùng Việt nam chưa có thói quen hoặc chưa sẵn sàng “tiết lộ” những mong muốn của họ cho các doanh nghiệp biết.
Với những trở ngại trên cho thấy không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng có đủ điều kiện để chủ động sản xuất, kinh doanh đạt kết quả tốt.

Nếu như “quảng cáo” đơn thuần chỉ là hoạt động trước bán hàng thì “nghiên cứu thị trường” là hoạt động trước sản xuất, trong sản xuất và ngay cả trong khi bán hàng – Nó phải được thực hiện thường xuyên và cập nhật để đảm bảo doanh nghiệp kinh doanh “trúng” đích và thu về lợi nhuận.


(Bài viết có sử dụng thông tin từ Tuổi Trẻ, Báo Mới và Saga)